So tiếng Việt - Pāli - English

Đọc từng câu riêng || Đọc từng câu trong kinh

Kinh Hộ Trì
Việt Pāli English
1Kinh Hộ Trì Paritta Parikamma Protective Verses
2Xin thỉnh chư thiên trong ta bà thế giới chung quanh hãy tụ hội đến đây. Xin các Ngài hãy lắng nghe Chánh Pháp của bậc Mâu Ni Vương, đưa đến cõi trời và giải thoát. 1. Samantā cakkavāḷesu, Atrāgacchantu devatā, Saddhammaṁ Munirājassa, Suṇantu saggamokkhadaṁ. Let the deities in every universe around come to this place. Let them listen to the excellent Dhamma of the King of Sages that gives (rebirth in) celestial realms and liberation (from saṁsāra).
3Xin các người có đạo đức! Đây là thời khắc để lắng nghe giáo Pháp. 2. Dhammassavana-kālo ayaṁ bhadantā! (3 x) Oh Happy Ones! This is the time for listening to the Dhamma.
4Kính lễ đến Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác. 3. Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa. (3 x) Homage to Him, the Blessed One, the Worthy One, the Fully Enlightened One.
5Những vị chư thiên có tâm thanh tịnh, đã quy y Tam Bảo, đang hiện hữu trên đất liền và trên hư không, hoặc ở thế giới này hoặc ở thế giới khác, là những vị luôn cố gắng thành tựu những phẩm chất đạo đức; chư thiên đang sống tại đỉnh Tu Di Sơn Vương được làm bằng vàng chói lọi; là những bậc hiền trí. Xin thỉnh chư thiên có sự hòa hợp hãy đền đây để lắng nghe, để phát sanh sự an lạc từ những lới dạy cao thượng của đức Mâu Ni, và đề phát sanh an lạc. 4. Ye santā santa-cittā, tisaraṇa-saraṇā, ettha lokantare vā, Bhummābhummā ca devā, guṇagaṇagahaṇā-byāvaṭā sabbakālaṁ, Ete āyantu devā, vara-kanaka-maye, Merurāje vasanto, Santo santosa-hetuṁ, Munivara-vacanaṁ, sotumaggaṁ samaggaṃ. Those deities who live on the earth, and who live in the skies, in this universe and in other universes, who are good-hearted and whose minds are peaceful, who have the Three Refuges (Buddha, Dhamma and Sangha) as refuge, and who always make effort to gain a multitude of qualities the King of deities who lives at the top of Mount Meru which is made of gold, and who is a gentle person; let all these deities come to listen to the words of the Excellent Sage, which are the best and are a source of happiness.
6Xin các vị Dạ Xoa, chư thiên và các vị Phạm thiên trong tất cả các vũ trụ hoan hỷ công đức mà chúng tôi đã làm đây, là duyên lành mang lại tất cả các sự thịnh vượng. 5. Sabbesu cakkavāḷesu, Yakkhā devā ca brahmaṇo, Yaṁ amhehi kataṁ puññaṁ, Sabba-sampatti-sādhakaṁ. Let all Yakkhas, Deities and Brahmas in all universes rejoice at the merit done by us which brings about prosperity.
7Sau khi hoan hỷ việc phước này, xin các ngài hòa hợp và vui thích trong giáo Pháp. Và đặc biệt không có sự biến nhác trong những việc hộ trì giáo Pháp. 6. Sabbe taṁ anumoditvā, Samaggā Sāsane ratā, Pamāda-rahitā hontu, Ārakkhāsu visesato. Let them especially be in unison and devoted to the Sasana (the Dispensation of the Buddha), and not be heedless in protecting the world.
8Xin các bậc hiền trí (vị chúa của Chư Thiên) hãy luôn luôn phát triển sự hưng thịnh của giáo Pháp và thế gian. Xin các Chư Thiên hãy luôn luôn hộ trì cả giáo Pháp và thế giới này. 7. Sāsanassa ca lokassa, Vuḍḍhī bhavatu sabbadā, Sāsanam pi ca lokañca, Devā rakkhantu sabbadā. At all times may there be growth of the Sasana and the world. May the deities always protect the Sasana and the world.
9Cầu mong tất cả chúng sanh đều được hạnh phúc. Xin cho những người túy tùy cùng tất cả thân bằng quyến thuộc của con không có những điều rủi ro, và tâm tư được thoải mái. 8. Saddhiṁ hontu sukhī sabbe, Parivārehi attano, Anīghā sumanā hontu, saha sabbehi ñatibhi. May all beings together with their relatives be in comfort, free from suffering and happy.
10Xin Chư Thiên hãy nắm giữ sự bảo vệ (chúng sanh) khỏi các vị vua xấu, hay kẻ trộm, hay khỏi con người, hay các phi nhân, hay khỏi lửa, hay nước, hay ma quỷ, hay gậy gộc, hay gai góc, hay chòm sao, hay các dịch bệnh của đất nước, hay những lời dạy sai, hay tà kiến, hay kẻ bất hảo, khỏi những con voi dữ, khỏi những con ngựa dữ, khỏi những con nai dữ, khỏi những con bò dữ, khỏi những con chó dữ, khỏi những con rắn rít dữ, khỏi những con hổ báo dữ, khỏi những con gấu dữ, khỏi những con linh cẩu dữ, khỏi những con heo dữ, khỏi những con trâu dữ, khỏi những con Dạ Xoa dữ, khỏi những con yêu tinh dữ. Hoặc, khỏi các mối sợ hãi hay các mối nguy hiểm khác, hay các bệnh tật, hay sự kém may mắn (thiên tai). 9. Rājato vā corato vā manussato vā amanussato vā aggito vā udakato vā pisācato vā khāṇukato vā kaṇṭakato vā nakkhattato vā janapada-rogato vā asaddhammato vā asandiṭṭhito vā asappurisato vā caṇḍa-hatthi-assa-miga-goṇa-kukkura-ahi-vicchika-maṇisappa-dīpi-accha-taraccha-sūkara-mahiṁsa-yakkha-rakkhasādīhi nānābhayato vā, nānārogato vā nānā-upaddavato vā ārakkhaṁ gaṇhantu. Let them protect the beings from the bad kings, thieves, human beings, non-human beings, fire, water, ghosts, tree stumps, thorns, constellations, epidemics, false teachings, false views, bad people, from wild elephants, horses, deer, oxen, dogs, snakes, scorpions, water snakes, leopards, bears, hyenas, boars, buffaloes, Yakkhas, Rakkhasas, and from various dangers and diseases and calamities.
11KINH HẠNH PHÚC MANGALA SUTTA MANGALA SUTTA
12Loài người cùng với chư thiên đã tìm kiếm những điều hạnh phúc trong suốt 12 năm nhưng họ không đạt được sự hạnh phúc. Có 38 điều hạnh phúc. 10. Yaṁ maṅgalaṁ dvādasahi, Cintayiṁsu sadevakā, Sotthānaṁ nādhigacchanti, Aṭṭhattiṁsañca Maṅgalaṁ. Men, together with deities, tried to find out for twelve years what blessing was. But they could not find out the blessings which number thirty eight, that are the cause of happiness.
13Xin các bậc hiền trí, hãy để chúng tôi tụng đọc những điều hạnh phúc này đã được Đức Phật (vị chúa của các chư thiên) thuyết giảng có sự đoạn tận tất cả các điều ác, vì lợi ích cho tất cả thế giới. 11. Desitaṁ Devadevena, Sabbapāpavināsanaṁ, Sabbalokahitatthāya, Maṅgalaṁ taṁ bhaṇāma he. Oh, Good People! Let us recite those blessings which were taught by the Deity of the Deities (the Buddha) for the benefit of beings and which destroy all evil.
14Điều tôi nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn ngự tại tu viện ông Anāthapiṇḍi ở Jetavana thành Sāvatthi. Khi ấy đêm đã khuya, có một vị trời, hào quang thù thắng chiếu sáng gần trọn cả Jatavana, đã đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến, đã đãnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, vị trời ấy đã bạch với Đức Thế Tôn bằng lời kể rằng: 12. Evaṁ me sutaṁ. Ekaṁ samayaṁ Bhagavā Sāvatthiyaṁ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ Jetavanaṁ obhāsetvā, yena Bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā Bhagavantaṁ abhivādetvā eka-mantaṃ aṭṭhāsi; eka-mantaṃ ṭhitā kho sā devatā Bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi: Thus have I heard. At one time the Blessed One was dwelling at the monastery of Anāthapiṇḍika in Jeta's Grove near the city of Sāvatthi. Then a certain deity in the late hours of the night with surpassing splendor, having illuminated the entire Jeta's Grove, came to the Blessed One. Drawing near, the deity respectfully paid homage to the Blessed One, and stood at a suitable place; standing there, the deity addressed the Blessed One in verse:
15Trong khi mong mỏi về điều phước lành, nhiều vị trời và loài người đã suy nghĩ về các hạnh phúc. Cầu xin Ngài hãy giảng về hạnh phúc tối thượng. 13. “Bahū devā manussā ca, Maṅgalāni acintayuṁ, Ākaṅkhamānā sotthānaṁ, Brūhi maṅgalamuttamaṁ.” “Many deities and men, desiring what is good, have pondered upon just what blessings were. Please tell me what the highest blessing is.”
16Sự không thân cận với những kẻ ngu, thân cận với những người hiền trí, sự cúng dường đến các bậc đáng được cúng dường, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 14. “Asevanā ca bālānaṁ, Paṇḍitānañca sevanā, Pūjā ca pūjaneyyānaṁ, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ.” “Not to associate with fools, to associate with the wise and to honor those who are worthy of honor. This is the highest blessing.”
17Sự cư ngụ ở trú xứ thích hợp, tư cách có phước thiện đã được làm trước đây, sự quyết định đúng đắn cho bản thân, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 15. Patirūpadesavāso ca, Pubbe ca katapuññatā, Attasammāpaṇidhi ca, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. To live in a suitable place, to have done meritorious deeds in the past, and to keep one's mind and body in a proper way. This is the highest blessing.
18Sự học rộng (Đa Văn), sự thành thạo nghề nghiệp, giới luật được khéo nghiêm trì, và lời nói tốt đẹp, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 16. Bāhusaccañca sippañca, Vinayo ca susikkhito, Subhāsitā ca yā vācā, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. To have much learning, to be skilled in crafts, to be well-trained in moral conduct and to have speech that is well-spoken. This is the highest blessing.
19Sự phụng dưỡng cha mẹ, sự đối xử thân thiện với vợ con, những nghề nghiệp không lẫn lộn (nghiệp dữ), điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 17. Mātāpitu-upaṭṭhānaṁ, Puttadārassa saṅgaho, Anākulā ca kammantā, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Caring for one's mother and father, supporting one's spouse and children and having work that causes no confusion. This is the highest blessing.
20Sự bố thí, nết hạnh đúng pháp (hành theo pháp), sự đối xử tử tế với hàng quyến thuộc, các hành động (thân, khấu, ý) không lỗi lầm, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 18. Dānañca dhammacariyā ca, Ñātakānañca saṅgaho, Anavajjāni kammāni, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Giving, practice of what is good, support of one's relative and blameless actions. This is the highest blessing.
21Sự kiêng cữ và tránh xa các điều ác, việc chế ngự uống các chất say, không biếng nhác trong các pháp, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 19. Āratī viratī pāpā, Majjapānā ca saṃyamo, Appamādo ca dhammesu, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Abstention from evil in mind, abstention from evil in body and speech, abstention from intoxicants and non-negligence in meritorious acts. This is the highest blessing.
22Sự cung kính, nết hạnh khiêm tốn, sự tri túc, lòng biết ơn, tùy thời lắng nghe giáo pháp, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 20. Gāravo ca nivāto ca, Santuṭṭhī ca kataññutā, Kālena Dhammassavanaṁ, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Respectfulness, humbleness, contentment, gratitude and listening to the Dhamma on suitable occasions. This is the highest blessing .
23Sự nhẫn nại, việc dễ dạy, sự tìm thấy các bậc Sa môn, tùy thời đàm luận giáo pháp, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 21. Khantī ca sovacassatā, Samaṇānañca dassanaṃ, Kālena Dhammasākacchā, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Patience, obedience, meeting those who have calmed the mental defilements and discussing the Dhamma on suitable occasions. This is the highest blessing.
24Sự thiêu đốt ác pháp, thực hành phạm hạnh, sự thấy các Thánh Đế (Tứ Diệu Đế), và chứng ngộ Niết Bàn, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 22. Tapo ca brahmacariyā ca, Ariyasaccāna dassanaṃ, Nibbāna-sacchikiriyā ca, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. Practice that consumes evil states, a noble life, seeing the Noble Truths, and realization of Nibbana. This is the highest blessing.
25Tâm của người nào không dao động khi xúc chạm với các pháp thế gian, không sầu khổ, không bợn nhơ, sự vắng lặng, điều ấy là hạnh phúc tối thượng. 23. Phuṭṭhassa lokadhammehi, Cittaṁ yassa na kampati, Asokaṁ virajaṁ khemaṁ, Etaṁ maṅgalamuttamaṁ. The mind of a person (an Arahant) who is confronted with worldly conditions does not flutter, is sorrowless, stainless and secure. This is the highest blessing.
26Sau khi đã thực hành các điều như thế, người chiến thắng ở tất cả các nơi, và đạt đến an vui ở mọi nơi. Điều ấy là hạnh phúc tối thượng cho những người ấy. 24. Etādisāni katvāna, Sabbatthamaparājitā, Sabbattha sotthiṁ gacchanti, Taṁ tesaṁ maṅgalamuttamaṁ, ti. Having fulfilled such things as these, beings are invincible everywhere and gain happiness everywhere. That is the highest blessing for them.
27KINH CHÂU BÁU RATANA SUTTA RATANA SUTTA
28Sau khi phát sanh tâm bi mẫn như Ngài Ananda đang hộ trì Kinh Paritta trọn đêm suốt ba canh, đi bộ dọc theo ba bức tường của thành của thành phố Vesāli. Ngài đã quán chiếu tất cả những ân đức này của Đức Phật bắt đầu từ khi phát nguyện (thành bậc Chánh Giác) của Như Lai, là thức hành 30 pháp ba la mật, bao gồm 10 pháp parami, 10 pháp trung parami, 10 pháp thượng parami, 5 pháp đại thí, 3 pháp hành là thực hành lợi ích cho thế gian, thực hành lợi ích cho người thân (của Ngài) và thực hành lợi ích cho sự giác ngộ, sự giáng sanh vào bào thai trong kiếp chót, việc đản sanh, sự xuất gia, việc tu khổ hạnh, sự chiến thắng Ma Vương, sự thấu triệt trí tuệ của một bậc Toàn Trí, sự vận chuyển Pháp Luân, 9 pháp xuất thế gian (siêu thế) 25. Paṇidhānato paṭṭhāya Tathāgatassa dasa pāramiyo dasa upapāramiyo dasa paramattha-pāramiyo ti samattiṁsa pāramiyo, pañca mahāpariccāge,
lokatthacariyaṁ ñātatthacariyaṁ Buddhatthacariyan' ti tisso cariyāyo, pacchimabbhave gabbhavokkantiṁ, jātiṁ, abhinikkhamanaṁ, padhānacariyaṁ,
Bodhipallaṅke Māravijayaṁ, Sabbaññutaññāṇappaṭivedhaṁ, Dhammacakkappavattanaṁ, nava lokuttaradhamme ti
sabbe pi me Buddhaguṇe āvajjitvā Vesāliyā tīsu pākārantaresu tiyāmarattiṁ Parittaṁ karonto Āyasmā Ānandatthero viya kāruññacittaṁ upaṭṭhapetvā,
Having mind infused with compassion like the Venerable Ānanda, who did protective chanting all through the three watches of the night, walking along the path between the three walls that surrounded the city of Vesālī, reflecting upon all these attributes of the Buddha: from the time the Buddha-to-be made the aspiration for Buddhahood, His practice of the thirty pāramīs comprising the ten pāramīs (perfections), the ten upapāramīs (the middle grade perfections) and the ten paramatthapāramīs (the highest grade perfections) the five great givings, the three great practices comprising practice for the world, practice for His relatives and practice for Buddhahood, and in His last birth, taking conception in His mother's womb, His birth, renunciation, the practice of asceticism, victory over Māra when He was seated on the throne under the Bodhi tree, gaining of Omniscience , turning of the Wheel of Dhamma (delivering of the First Sermon), and the nine Supramundane Dhammas,
29Xin các bậc hiền trí, bây giờ chúng tôi tụng kinh Paritta này mà nhiều vị chư thiên trong hàng tỷ vũ trụ (ta bà thế giới) đã chấp nhận (những điều đó), khiến cho nhanh chóng biến mất ba tai nạn do bệnh tật, phi nhân và nạn đói đang phát sanh ở thành phố Vesālī này. 26-27. Koṭīsatasahassesu, Cakkavāḷesu devatā, Yassāṇaṁ paṭiggaṇhanti, Yañca Vesāliyā pure. Rogāmanussa-dubbhikkhasambhūtaṁ tividhaṁ bhayaṁ, Khippa-mantaradhāpesi, Parittaṁ taṁ bhaṇāma he. Let us recite, oh good people, that Paritta whose authority is accepted by the deities in the thousand billion universes, and which quickly causes to disappear the three dangers resulting from disease, non-human beings and famine in the city of Vesālī.
30Bất cứ hạng chư thiên nào cùng nhau tụ hội nơi đây, ở đất liền hay ở trên hư không, mong cho tất cả chư thiên đó được hoan hỷ và cũng nên chăm chú lắng nghe lời tụng đọc (Phật ngôn) này. 28. Yānīdha bhūtāni samāgatāni, Bhummāni vā yāni va antalikkhe, Sabbeva bhūtā sumanā bhavantu, Atho pi sakkacca Suṇantu bhāsitaṁ. Whatsoever beings are here assembled, whether terrestrial or celestial, may these beings be happy; moreover may they attentively listen to my words.
31Vì vậy, xin tất cả các hạng chư thiện hãy lắng nghe! Hãy có lòng bi mẫn đối với chúng sanh là loài người. Họ mang lại cúng dường cả ngày lẫn đêm cho quí vị. Do vậy, hãy hộ trì họ một cách tinh cần. 29. Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe, Mettaṁ karotha mānusiyā pajāya, Divā ca ratto ca haranti ye baliṁ, Tasmā hi ne rakkhatha appamattā. Therefore, oh deities, let all listen! Have love for human beings. Day and night they bring offerings to you. Therefore guard them diligently.
32Cho dù châu báu ở thế giới này hay ở thế giới khác; hay báu vật cao quý nào ở trên cõi trời, báu vật đó không sánh bằng với Như Lai. Thật vậy, chư Phật là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 30. Yaṁ kiñci vittaṁ idha vā huraṁ vā, Saggesu vā yaṃ ratanaṁ paṇītaṁ, Na no samaṁ atthi Tathāgatena, Idampi Buddhe ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. Whatever treasure there be either here or in the world beyond, or whatever precious jewel is in the world of the deities, there is none equal to the Accomplished One. In the Buddha is this precious jewel. By this truth, may there be happiness.
33Sự kiên định của đức Sakyamunī đã thông suốt pháp thù diệu, bất tử, dứt khỏi tình dục, không còn phiền não. Do vậy, không có gì sánh bằng Pháp Bảo. Thật vậy, Pháp bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 31. Khayaṁ virāgaṁ amataṁ paṇītaṁ Yadajjhagā Sakyamunīsamāhito, Na tena Dhammena samatthi kiñci; Idampi Dhamme ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. The serene Sage of the Sakyas realized the Dhamma (Nibbāna) which is the cessation of defilements, which is free from passion and which is deathless and supreme. There is nothing equal to this Dhamma. Also in the Dhamma is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
34Đức Phật cao quý đã tán dương thiền định tinh khiết. Chư Phật đã nói là vô gián định (cho quả ngay lập tức). Không có gì sánh bằng thiền định ấy. Thật vậy, Pháp bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 32. Yaṁ Buddhaseṭṭho parivaṇṇayīsuciṁ , Samādhi-mānantarikañña-māhu, Samādhinā tena samo na vijjati; Idampi Dhamme ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. The supreme Buddha praised the pure concentration (that accompanies Path consciousness) and the Buddhas described it as giving result immediately. There is nothing equal to that concentration. Also in the Dhamma is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
35Có 8 (hay 108) bậc thánh nhân được người đức hạnh ca ngợi, có 4 đôi này. Các vị đệ tử ấy của đức Thiện Thệ đáng được cúng dường. Những sự bố thí đến các vị đó là có quả lớn. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 33. Ye puggalā aṭṭha sataṁ pasatthā, Cattāri etāni yugāni honti, Te dakkhiṇeyyā Sugatassa sāvakā, Etesu dinnāni mahapphalāni; Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. The eight individuals praised by the virtuous constitute four pairs; they are the disciples of the Buddha and are worthy of offerings; gifts made to them yield abundant fruit. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
36Với tâm trí kiên định hợp lý, các Ngài có sự ứng dụng hoàn hảo xuyên qua giáo pháp của đức Cồ Đàm. Các Ngài đã thoát khỏi những dục vọng. Các Ngài đã đạt được mục đích, đã thể nhập bất tử. Các Ngài đã đạt được sự cao tột, đang tận hưởng sự giải thoát. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 34. Ye suppayuttā manasā daḷhena, Nikkāmino Gotama-sāsanamhi , Te pattipattā amataṁ vigayha, Laddhā mudhā nibbutiṁ bhuñjamānā; Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. With a steadfast mind, applying themselves thoroughly in the Dispensation of Gotama, they got out of passions; they have attained that which should be attained. Plunging into the Deathless, they enjoy the peace that is won without expense. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
37Ví như trụ đá vững chắc được chôn trong lòng đất, không thể bị lay chuyển bởi những cơn gió từ tứ phương. Cũng ví như vậy, con đảnh lễ bậc hiền nhân, người mà thấy rõ Thánh Đế (Tứ Diệu Đế). Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 35. Yathindakhīlo pathavissito siyā, Catubbhi vātehi asampakampiyo, Tathūpamaṁ sappurisaṁ vadāmi, Yo Ariyasaccāni avecca passati; Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. Just as a firm post sunk in the earth cannot be shaken by the four winds (winds from four directions), so, I declare, is a righteous person who thoroughly perceives the Noble Truths. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
38Những vị nào phát triển rõ ràng những Thánh Đế đã được khéo thuyết giảng bằng trí tuệ sâu lắng, cho dù các Ngài thường dễ duôi nhưng các Ngài cũng không nhận lãnh kiếp sống thứ 8. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 36. Ye Ariyasaccāni vibhāvayanti, Gambhīrapaññena sudesitāni, Kiñcāpi te honti bhusaṁ pamattā, Na te bhavaṁ aṭṭhama-mādiyanti; Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ , Etena saccena suvatthi hotu. However exceedingly heedless they may be, those who have comprehended the Noble Truths well taught by Him of deep wisdom, do not take an eighth rebirth. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
39Với đầy đủ tri kiến (Sơ đạo) chắc chắn, ba pháp đã được diệt trừ là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Thậm chí vị này cũng diệt trừ những phiền não khác. 37. Sahāvassa dassanasampadāya, Tayassu dhammā jahitā bhavanti: Sakkāyadiṭṭhivicikicchitañca, Sīlabbataṁ vā pi yadatthi kiñci ; With the attainment of the First Path, the three states, namely, self-illusion, doubt and belief in wrong habits and practices (as a way to purification), are abandoned in him. Also he abandons some other defilements.
40Và vị ấy đã hoàn toàn thoát khỏi 4 đường ác đạo, không có thể phạm 6 ác hành. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 38. Catūhapāyehi ca vippamutto,
Chacābhiṭhānāni abhabbo kātuṁ;
Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ,
Etena saccena suvatthi hotu.
He is totally free from (rebirth in) the four woeful states and is incapable of committing the six major wrong doings. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
41Mặc dù vị ấy làm việc ác nào bằng thân, bằng khẩu hay bằng ý, việc làm của vị ấy không thể che giấu. Những việc đã được nói lên không thể che giấu với người thấy Niết Bàn. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 39. Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṁ,
Kāyena vācā uda cetasā vā,
Abhabbo so tassa paṭicchadāya,
Abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā;
Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ,
Etena saccena suvatthi hotu.
Although he may do an evil deed, whether by body, or by word or by thought, he is incapable of hiding it. The Buddha has declared this fact that such a person who has seen Nibbāna with Path Consciousness is not capable of hiding his wrong-doings. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
42Cũng như những bụi cây trong rừng đâm chồi trên những ngọn cây trong cái nóng của tháng đầu mùa hạ. Cũng như thế ấy, giáo pháp cao quý đã được chỉ ra, dẫn đến Niết Bàn là hạnh phúc tối thượng. Thật vậy, Phật bảo này là châu báu thù diệu, do sự chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 40. Vanappagumbe yathā phussitagge,
Gimhāna māse paṭhamasmiṁ gimhe,
Tathūpamaṁ Dhammavaraṁ adesayi,
Nibbānagāmiṁ paramaṁ hitāya;
Idampi Buddhe ratanaṁ paṇītaṃ,
Etena saccena suvatthi hotu.
Graceful as the woodland grove with blossoming treetops in the first month of summers the sublime doctrine that leads to Nibbāna. Such a Dhamma the Buddha taught for the highest good of beings. Also in the Buddha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
43Bậc Thù Thắng (Đức Phật) bậc Liễu tri Thù Thắng, bậc Thí Thù Thắng, bậc Mang Lại Thù Thắng, bậc Vô Thượng đã giảng giải pháp thù thắng. Thật vậy, Phật bảo này là châu báu thù diệu, do sự chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 41. Varo Varaññū Varado Varāharo,
Anuttaro Dhammavaraṁ adesayi;
Idampi Buddhe ratanaṁ paṇītaṁ,
Etena saccena suvatthi hotu.
The Unsurpassed Excellent One (i.e., the Buddha), the knower of the excellent, the bestower of the excellent, the bringer of the excellent, has taught the excellent doctrine. Also in the Buddha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
44Nghiệp cũ (quá khứ) đã chấm dứt, đời sống mới (tương lai) là không có, tâm đã lìa khỏi sự dính mắc của kiếp sống (hiện tại). Các vị ấy có hạt giống đã hủy hoại, sự mong muốn (tái sanh) không tăng trưởng. Các bậc trí tuệ giải thoát như ngọn đèn đã tắt. Thật vậy, Tăng bảo này là châu báu thù diệu, do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 42. Khīṇaṁ purāṇaṁ navaṃ natthi-sambhavaṁ,
Virattacittāyatike bhavasmiṁ,
Te khīṇabījā avirūḷhichandā,
Nibbanti dhīrā yathāyaṁ padīpo;
Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇītaṁ,
Etena saccena suvatthi hotu.
Their past kamma is exhausted; there is no arising of fresh kamma; their minds are not attached to a future birth; they have extinguished the seed of becoming; their desire for becoming does not grow. These wise ones go out even as this lamp burns out. Also in the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
45Bất cứ hạng chư thiên nào đã tụ hội nơi đây, ở trên địa cầu hay hư không, tất cả chúng ta hãy đảnh lễ Giác Ngộ Như Lai đã được cung kính bởi chư thiên và loài người. Mong cho được thạnh lợi. 43. Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāni va antalikkhe,
Tathāgataṁ devamanussapūjitaṁ ,
Buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.
Whatsoever beings are here assembled, whether terrestrial or celestial, all of us pay homage to the accomplished Buddha honored by gods and humans. May there be happiness.
46Bất cứ hạng chư thiên nào đã tụ hội nơi đây, ở trên địa cầu hay hư không, tất cả chúng ta hãy đảnh lễ giáo Pháp Như Lai đã được cung kính bởi chư thiên và loài người. Mong cho được thạnh lợi. 44. Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāni va antalikkhe,
Tathāgataṁ devamanussapūjitaṁ ,
Dhammaṁ namassāma suvatthi hotu.
Whatsoever beings are here assembled, whether terrestrial or celestial, all of us pay homage to the accomplished Dhamma honored by gods and humans. May there be happiness.
47Bất cứ hạng chư thiên nào đã tụ hội nơi đây, ở trên địa cầu hay hư không, tất cả chúng ta hãy đảnh lễ pháp Tăng Như Lai đã được cung kính bởi chư thiên và loài người. Mong cho được thạnh lợi. 45. Yānīdha bhūtāni samāgatāni,
Bhummāni vā yāni va antalikkhe,
Tathāgataṁ devamanussapūjitaṁ ,,
Saṁghaṁ namassāma suvatthi hotu.
Whatsoever beings are here assembled, whether terrestrial or celestial, all of us pay homage to the accomplished Saṁgha honored by gods and humans. May there be happiness.
48KINH TỪ BI METTĀ SUTTA METTA SUTTA
49Do nhờ oai lực của Kinh này mà những hạng Dạ Xoa không dám hiện hình đáng sợ. Thật vậy, đối với người nào nỗ lực liên tục, không biếng nhác (tụng đọc và thực hành) ngày và đêm, Người này ngủ một cách an lạc, và người này không thấy ác mộng. Xin các bậc hiền trí, chúng tôi hãy tụng kinh Paritta này có những ân đức ấy. 46-47. Yassānubhāvato yakkhā, Neva dassenti bhīsanaṁ;
Yamhi cevānuyuñjanto, Rattindivamatandito.
Sukhaṁ supati sutto ca, Pāpaṁ kiñci na passati;
Evamādiguṇūpetaṁ, Parittaṃ taṁ bhaṇāma he.
By the power of this Sutta, the Yakkhas do not show fearful visions, and a person who makes effort regarding this Sutta day and night (by reciting and practicing), sleeps comfortably, and when he is asleep, he does not have bad dreams. Oh good people! Let us recite this protective Sutta which is endowed with these qualities and others as well.
50Sau khi thấu hiểu căn bản của sự vắng lặng (Niết Bàn) bằng sự thiện xảo lợi ích cần được làm. Là người có khả năng chất phát và khéo chánh trực, dễ dạy, nhu thuận và không kiêu mạn. Là người có sự tri túc, thanh đạm, không có rộn ràng, có ít việc, là người có căn thanh tịnh, tinh tế, không có sự kiêu căng, và không có sự quyến luyến gia đình (phật tử). 48. Karaṇīya-matthakusalena,
Yantaṃ santaṁ padaṁ abhisamecca,
Sakko ujū ca suhujū ca,
Suvaco cassa mudu anatimānī.
He who wants to dwell penetrating the state of calm (Nibbāna) and who is skilled in his good, should practice the three kinds of training. He should be able, upright, very upright, obedient, gentle, and not conceited.
51Vị ấy không làm những việc ác gì dù nhỏ mà những bậc hiền trí có thể khiển trách. Mong cho chúng sanh được sự an vui và an toàn. Mong tất cả chúng sanh được hạnh phúc. 49. Santussako ca subharo ca,
Appakicco ca sallahukavutti,
Santindriyo ca nipako ca,
Appagabbho kulesu ananugiddho.
50. Na ca khuddaṃ samācare kiñci,
Yena viññū pare upavadeyyuṁ.
Sukhino vā khemino hontu,
Sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
He should be contented, easy to take care of, have few activities, have light living (have few possessions), and be controlled in his senses; he should be wise and not impudent and not be greedily attached to the families (devotees). He should not commit any slight wrong, by doing which he might be censured by wise men. May all beings be happy and safe. May their hearts be happy.
52Bất cứ chúng sanh nào yếu hay mạnh, hay không ngoại trừ ai, dài hoặc ngắn, hoặc trung bình, lớn hay nhỏ, ốm hay mập, chúng sanh nào có thể thấy hoặc không thấy, những chúng sanh ở xa hay ở gần, đã sanh hoặc chưa sanh (bào thai), mong cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc. 51-52.Ye keci pāṇabhūtatthi,
Tasā vā thāvarā vā anavasesā,
Dīghā vā ye mahantā vā,
Majjhimā rassakā aṇukathūlā.
Diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā,
Ye va dūre vasanti avidūre,
Bhūtā vā sambhavesī vā,
Sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
Whatsoever living beings there be, feeble or strong, long or big or medium or short, small or fat (round), seen or unseen, those dwelling far or near, those who have been born and those who are yet to be born - may all beings without exception be happy.
53Đừng lừa đảo người khác, hay xem thường bất cứ người nào, trong nơi đâu. Chớ nên mong muốn làm khổ người này hay người khác (lẫn nhau) với ý tưởng sân hận thù hằn. Ví như người mẹ bảo vệ đứa con của mình (cho dù phải nguy hiểm đến tính mạng). Cũng vậy, hãy nên phát triển tâm tư vô lượng đến tất cả chúng sanh. 53-54. Na paro paraṁ nikubbetha,
Nātimaññetha katthacinaṃ kañci,
Byārosanā paṭighasaññā,
Nāñña-maññassa dukkha-miccheyya.
Mātā yathā niyaṁ puttaṃ,
Āyusā ekaputta-manurakkhe,
Evampi sabbabhūtesu,
Mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ.
Let none deceive another or despise any person in any place. Let him not wish any harm to another with insult or ill will. Just as a mother would protect her only child at the risk of her own life, even so let him cultivate a boundless heart toward all beings.
54Hãy nên phát triển tâm tư vô lượng đến tất cả thế gian, bên dưới và bên trên, bên này sang bên kia, không bị ngăn che. Thân thiện, không có thù oán. Khi đang đứng, đang đi, đang ngồi hay đang nằm cùng với tâm tư không mê mờ, người này nên phát triển niệm tâm từ ấy. Ở đây chư Phật gọi là phạm trú. 55-56. Mettañca sabbalokasmiṃ,
Mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ,
Uddhaṁ adho ca tiriyañca,
Asambādhaṁ averaṃ asapattaṁ.
Tiṭṭhaṁ caraṁ nisinno vā,
Sayāno vā yāvat'assa vigatamiddho,
Etaṁ satiṁ adhiṭṭheyya,
Brahmametaṁ vihāraṃ idhamāhu.
Let his thoughts of boundless love pervade the whole world-above, below and across; making them unrestricted, free of hate and free of enmity. Whether he is standing, walking, sitting or lying down, as long as he is awake he should develop this mindfulness in loving kindness. This is the Noble Living here (in the Dispensation of the Buddha), they say.
55Là người không có chấp thủ tà kiến, có giới hạnh, đã được thành tựu tri kiến, người nên dứt bỏ sự tham luyến trong các dục. Thật vậy người này chắc chắn không còn tái sanh vào bào thai nữa. 57. Diṭṭhiñca anupagamma,
Sīlavā dassanena sampanno,
Kāmesu vineyya gedhaṁ,
Na hi jātugabbhaseyyaṃ punaretī'ti.
Not approaching (taking) wrong views, being virtuous and endowed with Vision (the First Path Knowledge), and discarding attachment to sensual objects, he definitely does not come again to lying in a (mother's) womb.
56KHANDHA SUTTA KHANDHA SUTTA KHANDHA SUTTA
57Xin các bậc hiền trí, chúng ta hãy tụng kinh Paritta này, như là thuốc thần chú, hãy tiêu diệt được nọc độc kinh khủng của các loài rắn có nọc độc. Do phạm vi oai lực của kinh Paritta này, hãy ngăn chận ngay cả những nguy hiểm khác còn dư sót của tất cả chúng sanh ở khắp nơi trong bất cứ lúc nào. 58-59. Sabbāsīvisajātīnaṁ, Dibbamantāgadaṁ viya,
Yaṁ nāseti visaṁ ghoraṁ, Sesañcāpi parissayaṁ.
Ānākkhettamhi sabbattha, Sabbadā sabbapāṇinaṁ,
Sabbaso'pi nivāreti, Parittaṁ taṁ bhaṇāma he.
Oh good people! Let us recite this protective Sutta which, like the medicine of a divine mantra, destroys the terrible venom of all poisonous creatures and thoroughly destroys all other dangers to all beings in all places at all times within the sphere of Authority (of the Paritta).
58Mong cho tâm từ của tôi đến với những Virūpakkha. Mong cho tâm từ của tôi đến với những Erāpatha. Mong cho tâm từ của tôi đến với những Chabyāputta. Mong cho tâm từ của tôi đến với những Kaṇhāgotamaka. Mong cho tâm từ của tôi đến với những chúng sanh không chân. Mong cho tâm từ của tôi đến với những chúng sanh hai chân. Mong cho tâm từ của tôi đến với những chúng sanh bốn chân. Mong cho tâm từ của tôi đến với những chúng sanh nhiều chân. 60-61. Virūpakkhehi me mettaṁ,
Mettaṁ Erāpathehi me,
Chabyāputtehi me mettaṁ,
Mettaṁ Kaṇhāgotamakehi ca.
Apādakehi me mettaṁ,
Mettaṁ dvipādakehi me.
Catuppadehi me mettaṁ,
Mettaṁ bahuppadehi me.
May there be love between me and the Virūpakkhas. May there be love between me and the Erāpathas. May there be love between me and the Chabyāputtas. May there be love between me and the Kaṇhāgotamakas. May there be love between me and creatures without feet. May there be love between me and creatures with two feet. May there be love between me and creatures with four feet. May there be love between me and creatures with many feet.
59Mong cho chúng sanh không chân đừng hại tôi. Mong cho chúng sanh hai chân đừng hại tôi. Mong cho chúng sanh bốn chân đừng hại tôi. Mong cho chúng sanh nhiều chân đừng hại tôi. Tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình (có hơi thở), tất cả sanh linh và không phân biệt, mong cho tất cả chúng sanh thấy được những điều tốt. Đừng mang lại cho ai bất cứ những điều gì ác. 62-63. Mā maṁ apādako hiṁsi,
Mā maṁ hiṁsi dvipādako,
Mā maṁ catuppado hiṁsi,
Mā maṁ hiṁsi bahuppado.
Sabbe sattā sabbe pāṇā,
Sabbe bhūtā ca kevalā,
Sabbe bhadrāni passantu,
Mā kiñci pāpam'āgamā.
May creatures without feet not harm me. May creatures with two feet not harm me. May creatures with four feet not harm me. May creatures with many feet not harm me. All creatures, all beings that breathe, and all beings that have been born, may they all without exception see what is good. May not any evil (suffering) come to any being.
60Vô biên là Đức Phật, vô biên là giáo pháp, vô biên là tăng chúng. Giới hạn là những loài bò sát như những con rắn, những con bò cạp, những con rít, những con nhện, những con tắc kè, những con chuột. Việc bảo vệ đã được tôi làm, sự hộ trì kinh Paritta đã được tôi thực hành, mong những chúng sanh hãy tránh xa. Con xin kính lễ Ngài là Đức Thế Tôn. Con xin kính lễ bảy vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. 64-65. Appamāṇo Buddho, appamāṇo Dhammo,
Appamāṇo Saṅgho, pamāṇavantāni sarīsapāni,
Ahi vicchikā satapadī, uṇṇanābhī sarabū mūsikā.
Katā me rakkhā, kataṁ me parittaṁ,
Paṭikkamantu bhūtāni, Sohaṁ namo Bhagavato,
Namo sattannaṁ Sammāsambuddhanaṁ.ti.
Immeasurable is the Buddha, immeasurable is the Dhamma, immeasurable is the Saṁgha. Limited are creeping things: snakes, scorpions, centipedes, spiders, lizards, mice. A protection has been made by me, a safeguard has been made by me. Let all the creatures withdraw. I pay homage to the Buddha I pay homage to the seven Fully Enlightened Ones.
61KINH CON CÔNG MORA SUTTA MORA SUTTA
62Mặc dù những người thợ săn đã cố gắng trong một thời gian dài, nhưng họ đã không có thể bắt được bậc Đại Chúng Sanh, là vị đã tái sanh trong loài công; đang hoàn thiện các yếu tố đưa đến giác ngộ và được bảo vệ bởi kinh Paritta này. Xin các bậc hiền trí, chúng tôi sẽ tụng kinh Paritta đã được tuyên bố này như là Phạm Chú. 66-67. Pūrentambodhisambhāre,
Nibbattaṁ morayoniyaṁ,
Yena saṁvihitārakkhaṁ,
Mahāsattaṁ vanecarā,
Cirassaṁ vāyamantā pi,
Neva sakkhiṁsu gaṇhituṁ;
"Brahmamantan" ti akkhātaṃ,
Parittaṁ taṁ bhaṇāma he.
Although they tried for a long time, the hunters could not catch the Great Being, who was reborn as a peacock while fulfilling the necessary perfections for Buddhahood and who made protection by this Paritta. Oh good people! Let us recite this protective Sutta which is described as a divine mantra.
63Mặt trời này đã được mọc lên như là con mắt (để cho mọi loài có thể thấy), là vị vua duy nhất có màu sắc vàng óng, có sự chiếu sáng khắp mặt đất. Vì vậy con xin kính lễ mặt trời đó có màu sắc vàng óng, có sự chiếu sáng khắp mặt đất. Do đó hôm nay đã được bảo vệ bởi mặt trời, chúng tôi sống cả ngày một cách an toàn. 68. Udetayaṁ cakkhumā ekarājā,
Harissavaṇṇo paṭhavippabhāso;
Taṁ taṁ namassāmi
harissavaṇṇaṁ paṭhavippabhāsaṁ,
Tayājja guttā viharemu divasaṁ.
This sun which gives eyes to the creatures to see, which is the supreme king, which is gold in color and which shines all over the earth, rises. I pay respect to that sun, which is gold in color and which shines all over the earth. Being protected by you, we will live safely the whole day.
64Con kính lễ các vị Bà La Môn (chư Phật) nào đã thâm hiểu tất các các pháp, mong cho các ngài đó hộ trì con. Xin cung kính đến chư Phật, xin kính lễ đến sự giác ngộ, xin kính lễ đến những vị đã được giải thoát, xin tôn kính về pháp giải thoát. Sau khi đã thực hành kinh Paritta này, con công trống đi tìm thức ăn. 69. Ye Brāhmaṇa vedagū sabbadhamme,
te me namo, te ca maṁ pālayantu;
Namatthu Buddhānaṁ namatthu bodhiyā,
Namo vimuttānaṁ namo vimuttiyā.
Imaṁ so parittaṁ katvā moro carati esanā.
I pay homage to those Buddhas who have understood all Dhammas. And may they protect me. Let there be homage to the Buddhas, let there be homage to Enlightenment, let there be homage to those who have become free. Let there be homage to the five kinds of deliverance. That peacock made this protection and then went foraging about for food.
65Mặt trời đã được lặn xuống này như là con mắt (để cho mọi loài có thể thấy), là vị vua duy nhất có màu sắc vàng óng, có sự chiếu sáng khắp mặt đất. Thật vậy con xin kính lễ mặt trời đó có màu sắc vàng óng, có sự chiếu sáng khắp mặt đất. Do đó hôm nay đã được bảo vệ bởi mặt trời, chúng tôi sống cả đêm một cách an toàn. 70. Apetayaṁ cakkhumā ekarājā,
Harissavaṇṇo paṭhavippabhāso;
Taṁ taṁ namassāmi
harissavaṇṇaṁ paṭhavippabhāsaṁ.
Tayājja guttā viharemu rattiṁ.
This sun which gives eyes to the creatures to see which is the supreme king, which is gold in color and which shines all over the earth, sets. I pay respect to that sun, which is gold in color and which shines all over the earth. Being protected by you, we will live safely the whole night.
66Con kính lễ các vị Bà La Môn (chư Phật) nào đã thâm hiểu tất các các pháp, mong cho các ngài đó hộ trì con. Xin cung kính đến chư Phật, xin kính lễ đến sự giác ngộ, xin kính lễ đến những vị đã được giải thoát, xin tôn kính về pháp giải thoát. Sau khi đã thực hành kinh Paritta này, con công trống đã đi ngủ. 71. Ye Brahmaṇā vedagū sabbadhamme,
Te me namo, te ca maṁ pālayantu;
Namatthu Buddhānaṁ namatthu bodhiyā,
Namo vimuttānaṁ namo vimuttiyā.
Imaṁ so parittaṁ katvā moro vāsamakappayi'ti.
I pay homage to those Buddhas who have understood all Dhammas. And may they protect me. Let there be homage to the Buddhas, let there be homage to Enlightenment, let there be homage to those who have become free. Let there be homage to the five kinds of deliverance. That peacock made this protection and then went to sleep.
67KINH CHIM CÚT VATTA SUTTA VATTA SUTTA
68Xin các bậc hiền trí, Chúng tôi tụng kinh Paritta này. Do nhờ oai lực của việc tụng đọc này, ngọn lửa rừng đã tránh xa bậc Đại Chúng Sanh là vị đã tái sanh làm con chim cút trong vòng luân hồi để hoàn thiện các yếu tố đưa đến giác ngộ. Kinh Paritta đã được đấng Cứu Tinh nói lên cho Ngài Sāriputta. Bài kinh này có đại oai lực đã được tồn tại hằng a-tăng-tỳ kiếp. 72-73. Pūrentaṁ bodhisambhāre, Nibbattaṁ vaṭṭajātiyaṁ,
Yassa tejena dāvaggi, Mahāsattaṁ vivajjayi.
Therassa Sāriputtassa, Lokanāthena bhāsitaṁ,
Kappaṭṭhāyiṁ mahātejaṁ,
Parittaṁ taṁ bhaṇāma he.
Oh good people! Let us recite this protective Sutta by the power of which the forest fire avoided the Great Being who was reborn as a quail while fulfilling the perfections for Buddhahood, and which was delivered by the Lord of the World to the Venerable Sariputta, and which lasts for the entire world cycle and which has great power.
69Trong thế gian có giới đức, có sự chân thật, trong sạch, có lòng bi mẵn. Do lời chân thật này, tôi làm một hạnh lành cao thượng. Sau khi suy niệm về oai lực của giáo pháp, nhớ tưởng đến những bậc Chiến Thắng trong quá khứ, dựa vào oai lực của sự chân thật, tôi đã quyến định một hạnh chân thật. 74-75. Atthi loke sīlaguṇo, Saccaṁ soceyyanuddā,
Tena saccena kāhāmi, Sacca-kiriya-muttamaṁ.
Āvajjetvā Dhammabalaṁ, Saritvā pubbake jine,
Saccabala-mavassāya, Sacca-kiriya-makāsahaṁ.
There are in the world the qualities of morality truthfulness, purity, loving kindness and compassion. By that saying of Truth, I will make an excellent asseveration. Having reflected upon the power of the Dhamma and having remembered the Victorious Ones of old, I made an asseveration relying on the power of truthfulness:
70Tôi có cánh nhưng tôi không thể bay. Tôi có chân những tôi không thể đi. Cha mẹ tôi đã đi khỏi. Này lửa rừng! Hãy lùi lại ngay! Ngay khi tôi vừa làm một quyết định chân thật, ngọn lửa rừng lớn đang cháy đã lùi xa cách mười sáu karīsas, như ngọn lửa đã được dập tắt. Đối với Bồ Tát không có gì bằng sự chân thật. Điều này là Ba La Mật Chân Thật của tôi. 76-77. Santi pakkā apatanā, Santi pādā avañcanā,
Mātāpitā ca nikkhantā, Jātaveda paṭikkama.
Saha sacce kate mayhaṁ, Mahāpajjalito sikhī,
Vajjesi soḷasakarīsāni, Udakaṁ patvā yathā sikhī.
Saccena me samo natthi, Esā me Sacca-pāramī.
"I have wings, but I cannot fly. I have feet, but I cannot walk. My mother and my father have left me. Oh forest fire! Go back (stop)!" As soon as I have made this asseveration, the great flames of the fire avoided me from sixteen karisas, like a fire coming to the water. There is nothing equal to my truthfulness. This is my Perfection of Truthfulness.
71KINH NGỌN CỜ DHAJAGGA SUTTA DHAJAGGA SUTTA
72Do nhờ sự niệm tưởng đến kinh Paritta này, những chúng sanh đi đến sự an ổn ngay cả trên hư không, cho dù trên mặt đất, hoặc thậm chí khắp mọi nơi. Do nhờ oai lực của kinh này mà vô số chúng sanh đã thoát khỏi tất cả rối rắm của sự nguy khốn, khởi sanh do Dạ Xoa, kẻ trộm v.v... Xin các bậc hiền trí! Nay chúng tôi tụng kinh Paritta này. 78-79. Yassānussaraṇenāpi, Antalikkhe pi pāṇino, Patiṭṭha-madhi gacchanti, Bhūmiyaṁ viya sabbathā, Sabbupaddavajālamhā, Yakkhacorādisambhavā, Gaṇanā na ca muttānaṁ. Parittaṁ taṁ bhaṇāma he. Oh good people! Let us recite that protective Sutta by just remembering which beings gain a foothold in the skies in all ways even as they have a foothold on the earth and by the power of which there is no number of beings that have gotten free from calamities caused by yakkhas, thieves, etc.
73Điều đã được tôi nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika ở Jatavana, thành Sāvatthi. 80. Evaṁ me sutaṁ. Ekaṁ samayaṁ Bhagavā Sāvatthiyaṁ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme. Thus have I heard. At one time the Blessed One was dwelling at the monastery of Anathapi??ika in Jeta's Grove near Savatthi.
74Tại chỗ ấy, Đức Thế Tôn gói các vị Tỳ khưu: "Này các Tỳ khưu". Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại với Đức Thế Tôn rằng: "Dạ vâng, thưa Ngài". Đức Thế Tôn đã nói điều này: "Này các Tỳ khưu! Thuở xưa, có một cuộc bày binh trong cuộc chiến giữa chư thiên và A-tu-la. Thế rồi, Này các Tỳ khưu, Thiên Vương Đế Thích đã nói với chư thiên ở Đạo Lợi "Nếu các ngươi đã gia nhập cuộc chiến với chư thiên có thể khởi sanh sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược, điều duy nhất lúc đó là các ngươi hãy nhìn đỉnh cao ngọn cờ của ta. Thật vậy, khi các ngươi nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến." 81. Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi, “Bhikkhavo” ti, “Bhaddante” ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “Bhūtapubbaṁ bhikkhave devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi. Atha kho bhikkhave Sakko Devānamindo deve Tāvatiṁse āmantesi, ‘Sace mārisā devanaṁ: saṅgāmagatānaṁ uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye dhajaggaṁ ullokeyyd1tha. Mamaṁ hi vo dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati. There the Blessed One addressed the monks saying, "Monks", and they responded, "Lord", to the Blessed One. The Blessed One spoke as follows: "Monks, long ago, there was an array of a battle between the devas and the asuras. Then Sakka, the King of Devas, addressed the devas of Tavatimsa saying, "If in you who have joined the battle there should arise fear, trembling, or terror (hair standing on end), just look at the crest of my banner, and of those who look at the crest of my banner, the fear, trembling or terror that would arise will disappear.
75"Nếu các ngươi không nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của ta, thì hãy nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Pajāpati. Thật vậy, khi các ngươi nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Pajāpati, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến." 82. No ce me dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha Pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha. Pajāpatissa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, yaṁ bhavissari bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā, lomahaṁso vā, so pahīyissati. If you do not happen to look at the crest of my banner, watch then the crest of the General Pajapati's banner, and of those who look at the crest of the General Pajapati's banner, the fear, trembling or terror that would arise will disappear.
76"Nếu các ngươi không nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Pajāpati, thì hãy nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Varuṇa. Thật vậy, khi các ngươi nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Varuṇa, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến." 83. No ce Pajāpatissa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha Varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha. Varuṇassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati. If you do not happen to look at the crest of the General Pajapati's banner, watch then the crest of the General Varu?a's banner, and of those who look at the crest of the General Varu?a's banner, the fear, trembling or terror that would arise will disappear.
77"Nếu các ngươi không nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Varuṇa, thì hãy nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Isāna. Thật vậy, khi các ngươi nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên Vương Isāna, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến." 84. No ce Varuṇassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha, atha Īsānassa devarājassa dhajaggaṁ ullokeyyātha. Īsānassa hi vo devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissatī ti. If you do not happen to look at the crest of the General Varu?a's banner, watch then the crest of the General Isana's banner, and of those who look at the crest of the General Isana's banner the fear, trembling or terror that would arise will disappear.
78Lại nữa, Này các Tỳ khưu, khi đã nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên vương Đế Thích, hay nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên vương Pajāpati, hay nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên vương Varuṇa, hay nhìn lên đỉnh cao ngọn cờ của Thiên vương Isāna, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến hay không biến mất." 85. Taṁ kho pana bhikkhave Sakkassa vā Devānamindassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, Pajāpatissa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, Varuṇassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, Īsānassa vā devarājassa dhajaggaṁ ullokayataṁ, yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyethāpi, no pi pahīyetha. Now, oh monks, in those that look up at the crest of the banner of Sakka, the King of Devas, or the banners of his Generals, Pajapati, Varu?a or Isana, any fear, trembling or terror that would arise may or may not disappear.
79Đó là nguyên nhân gì? Thật vây, Này các Tỳ khưu, bởi vì Thiên vương Đế Thích Sakka là người chưa hết tham, chưa hết sân, chưa hết si, còn rụt rè, còn hãi hùng, khiếp đảm, là người trốn chạy. 86. Taṁ kissa hetu? Sakko hi bhikkhave Devānamindo avītarāgo avītadoso aātamoho, bhīru chambhī uttarasī palāyīti. Why is that? Because Sakka, the King of Devas, oh monks, is not free from lust, not free from ill will, and not free from ignorance; he is subject to trembling, subject to terror, and subject to running away.
80Và này các Tỳ khưu, Như Lai nói điều này: "Này các Tỳ khưu. Nếu khi các ngươi đã đi vào rừng, đã đi đến gốc cây, hoặc đã đi đến ngôi nhà trống thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào có thể khởi lên, thì các ngươi hãy niệm tưởng đến Ta ngay lúc đó (niệm như sau:)" 87. Ahañca kho bhikkhave evaṁ vadāmi, ‘Sace tumhākaṁ bhikkhave araññagatānaṁ vā rukkhamūlagatānaṁ vā suññāgāragatānaṁ vā uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye anussareyyātha: But I say this to you: if, oh monks, when you have gone into a forest, to a foot of a tree or a secluded place, and if fear, trembling or terror should arise in you, just remember me at that time (as follows):
81"Thật vậy, bậc đáng kính trọng ấy là A La hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn." 88. 'Iti pi so Bhagavā arahaṁ, sammāsambuddho, vijjācaraṇasampanno, sugato, lokavidū, anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ, buddho, bhagavā ti. "Because of this the Blessed One is called the Worthy One, the Fully Enlightened One, One Fully Endowed with Vision and Conduct, One Who has Gone Rightly, the Knower of the Worlds, the Incomparable Leader of Men to be Tamed, the Teacher of Gods and Men, the Enlightened and the Blessed."
82"Thật vậy, Này các Tỳ khưu, khi các ngươi niệm tưởng đến Ta, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến." 89. Mamaṁ hi vo bhikkhave amussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati. Of you, monks who remember me, whatever fear, trembling or terror that would arise will disappear.
83Nếu các ngươi không niệm tưởng đến Ta, thì hãy niệm tưởng đến giáo pháp: 90. No ce maṁ anussareyyātha, atha Dhammaṁ anussareyyātha: If you do not remember me, then remember the Dhamma (as follows):
84"Giáo Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, hoàn toàn hiển nhiên, có kết quả ngay lập tức, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết Bàn), và nên được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc có trí." 91. ‘Svākkhāto Bhagavatā Dhammo, sandiṭṭhiko, akāliko, ehipassiko, opaneyyiko, paccattaṁ veditabbo viññūhī ti. "The Dhamma of the Blessed One is well expounded, to be realized by oneself, gives immediate result, worthy of the invitation "Come and see", fit to be brought to oneself, and to be realized by the wise each in his mind"
85Thật vậy, Này các Tỳ khưu, khi các ngươi niệm tưởng đến giáo pháp, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến. 92. Dhammaṁ hi vo bhikkhave anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā so pahīyissati. Of you, monks, who remember the Dhamma, whatever fear, trembling or terror that would arise will disappear.
86Nếu các ngươi không niệm tưởng đến giáo pháp, thì hãy niệm tưởng đến tăng chúng: 93. No ce Dhammaṁ anussareyyātha, atha Saṁghaṁ anussareyyātha: If you do not remember the Dhamma, then remember the Sa?gha (as follows):
87"Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã khéo được huấn luyện. Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã huấn luyện đúng đắn. Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã huấn luyện có phương pháp. Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã huấn luyện làm tròn nhiệm vụ. Điều trên có nghĩa thế này: bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả) Tăng chúng đệ tử ấy của Đức Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được thân cận, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo phước báu của thế gian không gì hơn được." 94. ‘Suppatipanno Bhagavato sāvakasaṁgho, ujuppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṁgho, ñāyappaṭipanno Bhagavato sāvakasaṁgho sāmicippaṭipanno Bhagavato sāvakasaṁgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā; esa Bhagavato sāvakasaṁgho āhuneyyo, pāhuneyyo, dakkhiṇeyyo, añjalikaraṇiyo, anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā ti. "The Order of the disciples of the Blessed One has practiced the true way, the Order of the disciples of the Blessed One has practiced the straight way, the Order of the disciples of the Blessed One has practiced the way to Nibbana, the Order of the disciples of the Blessed One has practiced the proper way. This Order of the disciples of the Blessed One that has these four pairs of persons, the eight kinds of individuals, is worthy of gifts, is worthy of hospitality, is worthy of offerings, is worthy of reverential salutation and is an unsurpassed field for merit for the world."
88Thật vậy, Này các Tỳ khưu, khi các ngươi niệm tưởng đến tăng chúng, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược nào sẽ khởi sanh, nó sẽ tan biến. 95. Saṁghaṁ hi vo bhikkhave anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati. Of you, monks, who remember the Sa?gha, whatever fear, trembling or terror that would arise will disappear.
89Đó là nguyên nhân gì? Này các Tỳ khưu! Thật vậy, Như Lai là bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, là người không còn tham, không còn sân, không còn si, không còn rụt rè, không còn hãi hùng, không còn khiếp đảm, không là người trốn chạy. 96. Taṁ kissa hetu? Tathāgato hi bhikkhave Arahaṁ Sammāsambuddho vitarāgo vītadoso vītamoho, abhīru achambhī anutrāsī apalāyī ti. Why is that? Because, oh monks, the Tathagata who is worthy and fully enlightened, is free from lust, free from ill will, free from ignorance; he is without fear, without trembling, without terror and does not run away.
90Đức Thế Tôn đã nói lên điều này. Sau khi đã thốt lên điều này, đức Thiện Tuệ, bậc Đạo Sư đã nói thêm điều khác như thế này: 97. Ida-mavoca Bhagavā, idaṁ vatvāna Sugato; athāparaṁ etadavoca Satthā: This the Blessed One said. The Accomplished One, the Teacher, having said this, furthermore spoke these words:
91"Này các Tỳ khưu! Khi ở trong rừng, hoặc dưới gốc cây, hay trong ngôi nhà trống, hãy niệm tưởng đến đức Chánh Biến Tri, thời sự sợ hãi sẽ không khởi sanh cho các ngươi." 98. Araññe rukkhamūle vā, Suññāgāre va bhikkhavo, Anussaretha Sambuddhaṁ, Bhayaṁ tumhāka no siyā. Oh monks, when in a forest or at the foot of a tree or at a secluded place, remember the Enlightened One. No fear will arise in you.
92Nếu các ngươi không niệm tưởng đến Đức Phật, là vị chúa tể của thế gian, là bậc tôn quý của nhân loại, thời các ngươi hãy niệm tưởng đến Giáo pháp, đã được khéo thuyết giảng, đưa đến giải thoát. 99. No ce Buddhaṁ sareyyātha, Lokajeṭṭhaṁ Narāsabhaṁ, Atha Dhammaṁ sareyyātha, Niyyānikaṁ sudesitaṁ. If you do not remember the Buddha, the Chief of the World, the Leader of Men, then remember the Dhamma that leads to salvation and is well taught.
93Nếu các ngươi không niệm tưởng đến Giáo pháp, đã được khéo thuyết giảng, đưa đến giải thoát, thời các ngươi hãy niệm tưởng đến Tăng chúng là phước điền vô tận. 100. No ce Dhammaṁ sareyyātha, Niyyānikaṁ sudesitaṁ, Atha Saṁghaṁ sareyyātha, Puññakkhettaṁ anuttaraṁ. If you do not remember the Dhamma that leads to salvation and is welltaught, then remember the Sa?gha, the unsurpassed field for merit.
94Này các Tỳ khưu! Khi các ngươi niệm tưởng đến Đức Phật, Giáo pháp và Tăng chúng như thế, thời sự sợ hãi, kinh khiếp, hay lông tóc dựng ngược sẽ không khởi sanh. 101. Evaṁ Buddhaṁ sarantānaṁ, Dhammaṁ Saṁghaṁ ca bhikkhavo, Bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā, Lomahaṁso na hessati. Thus, oh monks, in you who remember the Buddha, the Dhamma and the Sa?gha, fear, trembling or terror will never arise.
95KINH ĀṬĀNĀṬIYA ĀṬĀNĀṬIYA SUTTA ĀṬĀNĀṬIYA SUTTA
96Bậc Đại Hùng đã thuyết giảng kinh Paritta này để lánh xa sự tổn hại và được bảo vệ khỏi các phi nhân hung dữ không có tịnh tín đến giáo Pháp đáng tôn kính của bậc Cứu Tinh; luôn cả những người làm ác đối với bốn hội chúng. Do vậy, xin các bậc hiền trí, chúng tôi sẽ tụng kinh Paritta này. 102-103. Appasannehi Nāthassa, Sāsane sādhusammate, Amanussehi caṇḍehi, Sadā kibbisakāribhi, Parisānaṁ catassannaṁ Ahiṁsāya ca guttiyā, Yaṁ desesi Mahāvīro, Parittaṁ taṁ bhaṇāma he. In order that the cruel non-human beings (demons) and others who have no faith in the well-esteemed Dispensation of the Lord and who always do evil, may not injure the four congregations of people and to keep them from danger, the One of Great Courage preached this protective Sutta. Oh good peopleī Let us recite this Sutta.
97Xin kính lễ đến đức Phật Vipassī là vị Hữu Nhãn, bậc vinh quang. Xin kính lễ đến đức Phật Sikhī là bậc có lòng từ mẫn đối với tất cả chúng sanh. 104. Vipassissa ca namatthu, Cakkhumantassa sirīmato Sikhissa pi ca namatthu, Sabbabhūtānukampino. Homage to the Vipassī Buddha, possessed of the eye of wisdom and splendor; homage to Sikh Buddha, compassionate toward all beings.
98Xin kính lễ đến đức Phật Vessabhū là bậc đã rửa sạch tất cả những ô nhiễm (phiền não), là bậc Ẩn Sĩ. Xin kính lễ đến đức Phật Kakusandha là bậc đã đánh bại đạo quân Ma Vương. 105. Vessabhussa ca namatthu Nhātakassa tapassino, Namatthu Kakusandhassa Mārasenāpamaddino. Homage to Vessabhū Buddha who has washed away all the defilements and who possesses good ascetic practices. Homage to Kakusandha Buddha who defeated the army of Māra.
99Xin kính lễ đến đức Phật Koṇāgamana là bậc đã đoạn trừ điều ác, có đời sống phạm hạnh đã thành tựu. Xin kính lễ đến đức Phật Kassapa là bậc đã thoát khỏi tất cả các phiền não. 106. Koṇāgamanassa namatthu, Brāhmaṇassa vusīmato; Kassapassa ca namatthu, Vippamuttassa sabbadhi. Homage to Koṇāgamana Buddha who had eradicated all evil and lived the holy life. Homage to Kassapa Buddha who had gotten free from all defilements.
100Xin kính lễ đến đức Aṅgīrasa (tên tộc đức Phật Gotama) của dòng Sakyaputta (Thích Tử), là bậc Vinh Quang, đã thuyết giảng giáo Pháp này làm tiêu tan tất cả khổ đau. 107. Aṅgīrasassa namatthu, Sakyaputtassa sirīmato, Yo imaṁ Dhammaṁ desesi Sabbadukkhāpanudanaṁ. Gotama the Buddha preached this doctrine which removed all suffering. Homage to this son of Sakyas (Gotama Buddha) from whose body emanated rays of light and who was glorious.
101Trên thế gian, những bậc Giác Ngộ nào có được sự nguội lạnh (tham ái), đã thấy rõ rệt như thật các trạng thái. Thật vậy, những bậc Giác Ngộ này không có lời nói vu khống, là bậc Vĩ Đại, bậc đã dứt khỏi sự sợ hãi. 108. Ye cāpi nibbutā loke, Yathābhutaṁ vipassisuṁ, Te janā apisuṇātha, Mahantā vītasāradaṁ. In this world, those who have extinguished all the heat of passions and who, through insight, have perceived things as they really are - these persons (Arahants) never slander, and are great and free from fear.
102Họ sẽ thành kính đối với đức Phật Gotama, là bậc Minh Hạnh Túc, bậc Vĩ Đại, là vị đã được thoát khỏi sự sợ hãi, là bậc có sự lợi ích cho chư thiên và nhân loại. 109. Hitaṁ devamanussānaṁ Yaṁ namassanti Gotamaṁ Vijjācaraṇasampannaṁ, Mahantaṁ vītasaradaṁ. They pay homage to the Gotama Buddha who works for the benefit of gods and men, who is endowed with wisdom and perfect conduct, who is great and free from fear. (Let my homage be to those persons (Arahants) too.)
103Có bảy vị Phật này và các hàng trăm chục triệu chư Chánh Biến Tri khác; tất cả chư Phật bằng nhau hoặc không bằng nhau; tất cả chư Phật đều có đại thần thông. 110. Ete caññe ca Sambuddhā Anekasatakoṭiyo, Sabbe Buddhāsamasamā, Sabbe Buddha mahiddhikā. Those seven Buddhas and the other hundreds of crores of Buddhas - all these Buddhas are equal only to those who are unequaled, all these Buddhas have great power.
104Tất cả chư Phật đều có thập lực4, đã đạt được tứ vô sở quý5. Chư Phật đều thừa nhận địa vị hùng tráng cao tột. 111. Sabbe dasabalūpetā, Vesārajjehu-pāgata, Sabbe te paṭijānanti, Āsabhaṁ ṭhanamuttamaṁ. All these Buddhas are endowed with ten kinds of strength (power) and wisdom of fearlessness. All these Buddhas admit that they possess the lofty state of Eminence (i.e., Omniscience).
105Chư Phật rống lên tiếng rống sư tử, là những vị có sự tự tin ở giữa những hội chúng (tám loại hội chúng6). Tất cả chư Phật chuyển Phạm Luân, trong thế gian không thể vận chuyển ngược lại. 112. Sīhanādaṁ nadantete, Parisāsu visāradā, Brahmacakkaṁ pavattenti, Loke appaṭivattiyaṁ. These Buddhas, being fearless among the (eight kinds of) congregations, roar the lion's roar, and they set in motion in the world the Wheel of Dhamma which cannot be turned back.
106Chư Phật là những vị Lãnh Đạo có 18 Phật Pháp7, là chư Phật có đầy đủ 32 tướng chính và 80 tướng phụ (của bậc đại nhân8). 113. Upetā Buddhadhammehi, Aṭṭhārasahi Nāyakā, Battiṁsa-lakkhaṇūpetā, Sītānubyañjanādharā. These leaders of the world are endowed with 18 special qualities particular to the Buddhas. They possess 32 major marks and 80 minor marks of 'a great man'.
107Tất cả những bậc Long Tượng Mâu Ni có hào quang được chiếu sáng xung quanh. Chư Phật này là những bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng, bậc Lậu Tận. 114. Byāmappabhāya suppabhā, Sabbe te Munikuñjarā, Buddhā Sabbaññuno ete, Sabbe Khīṇāsava Jinā. All these Best of Sages shine with surrounding halos; all these Buddhas are Omniscient. All these Buddhas are those whose defilements are extinguished, and they all are conquerors.
108Chư Phật có đại hào quang, có đại năng lực, có đại trí tuệ, có đại oai lực, có đại bi mẫn, có sự sáng suốt; bậc mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh. 115. Mahāpabhā mahātejā, Mahāpaññā mahabbalā, Mahākāruṇikā dhīra, Sabbesānaṁ sukhāvahā. These Buddhas possess a radiant light, mighty power, great wisdom and great strength, great compassion and unshakable concentratrion. They work for the happiness of all beings.
109Chư Phật là những Hòn Đảo; là những vị Cứu Tinh; những bậc Thiết Lập, những bậc Hộ Trì, những bậc An Toàn, những bậc Nhàn Cảnh, những đấng Bà Con, là những vị An Ủi lớn lao, là những chỗ Quy Y, là những bậc Tầm Cầu lợi lạc cho chúng sanh. 116. Dīpā nāthā patiṭṭhā ca, Tāṇā leṇā ca pāṇinaṁ, Gatī bandhū mahassāsā Saraṇā ca hitesino. They are, for beings, the islands, the lords, the supporting ground, the protectors, the shelters, the havens, the friends, the comforters, the refuges, and they seek welfare (for all beings).
110Tất cả chư Phật ấy là nơi nương tựa của thế gian cùng với thiên giới. Con cúi đầu đảnh lễ dưới những bàn chân của những bậc Vô Thượng Sĩ đó. 117. Sadevakassa lokassa, Sabbe ete parāyaṇā; Tesāhaṁ sirasā pāde, Vandāmi purisuttame. All these Buddhas are the dependable support for the world of gods and men. With respect, I bow my head at the feet of these Supreme Ones (Unsurpassed Men).
111Con luôn luôn kính lễ các đức Như Lai ấy bằng lời nói và tâm tư; ngay cả trong khi đang nằm, đang ngồi, đang đứng và đang đi. 118. Vacasā manasā ceva Vandāmete Tathāgate, Sayane āsane ṭhane, Gamane cāpi sabbadā. I pay homage to these Tathāgatas by words and by thoughts always-while I am lying down or sitting or standing or walking.
112Xin chư Phật là vị kiến tạo an bình hãy luôn luôn hộ trì cho người được sự an vui. Do nhờ sự hộ trì của chư Phật9, mong cho người được an toàn, giải thoát tất cả sợ hãi. 119. Sadā sukhena rakkhantu Buddhā santikarā tuvaṁ, Tehi tvaṁ rakkhito santo, Mutto sabbabhayehi ca. May the Buddhas who are peacemakers protect you always and bring you happiness. Being protected by them, may you be free from all dangers.
113Mong cho người có được thoát khỏi tất cả bệnh tật, tránh khỏi tất cả sự buồn rầu, vượt qua tất cả sự hận thù và được mát mẻ (Niết Bàn). 120. Sabbarogā vinīmutto, Sabbasantāpavajjito, Sabbavera-matikkanto, Nibbuto ca tuvaṁ bhava. May you be free from all disease, may all worry and anxiety avoid you. May you overcome all enmity and may you be peaceful.
114Do nhờ sự oai lực của sự chân thật, giới luật, kiên nhẫn cùng từ tâm của chư Phật đó; mong chư Phật ấy cũng hộ trì cho chúng con không có bệnh tật và được an vui. 121. Tesaṁ saccena sīlena Khantimettābalena ca, Tepi amhe-nurakkhantu Arogena sukhena ca. By the power of their truthfulness, virtue, patience and loving-kindness, may those Buddhas protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
115Có những phi nhân (Gandhabba) đại thần lực thuộc phần hướng Đông (của ngọn núi Meru10), mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 122. Puratthimasmiṁ disābhāge, Santi bhuta mahiddhika ' Tepi amhe-nurakkhantu Arogena sukhena ca. There are in the eastern direction (of Mount Meru) beings called Gandhabbas who are of mighty power. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
116Có những chư thiên đại thần lực thuộc phần hướng Nam (của ngọn núi Meru), mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 123. Dakkhivasmim disabhage, Santi devā mahiddhikā, Tepi amhe-nurakkhantu, Arogena sukhena ca. There are in the southern direction (of Mount Meru) the divine beings called Kumbhaṇḍas who are of mighty power. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
117Có những vị Long Vương đại thần lực thuộc phần hướng Tây (của ngọn núi Meru), mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 124. Pacchimasmiṁ disābhāge, Santi nāgā mahiddhikā, Tepi amhe-nurakkhantu Arogena sukhena ca. There are in the western direction (of Mount Meru) Nāgas (divine serpents) who are of mighty power. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
118Có những vị Dạ Xoa đại thần lực thuộc phần hướng Bắc (của ngọn núi Meru), mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 125. Uttarasmim disābhāge, Santi yakkhā mahiddhikā, Tepi amhe-nurakkhantu, Arogena sukhena ca. There are in the northern direction (of Mount Meru) the divine beings called Yakkhas who are of mighty power. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to behappy.
119Có Dhataraṭṭha ở hướng Đông; Virūḷhaka ở hướng Nam; Virūpakkha ở hướng Tây; và Kuvera ở hướng Bắc. 126. Puratthimena Dhataraṭṭho, Dakkhiṇena Virūḷhako, Pacchimena Virūpakkho, Kuvero uttaraṁ disaṁ. There is Dhataraṭṭha in the east, Virūlhaka in the south, Virūpakkha in the west, and Kuvera in the north.
120Tứ Đại Thiên Vương ấy là những vị Hộ Trì thế gian và có danh xưng, mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 127. Cattāro te Mahārājā, Lokapālā yasassino, Tepi amhe-nurakkhantu, Arogena sukhena ca. These four mighty Kings are the protectors of the world and have large retinues. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
121Có chư thiên, Long Vương đại thần lực ngự trên hư không và cư trú trên mặt đất, mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 128. Ākāsaṭṭhā ca bhūmaṭṭhā, Devā nāgā mahiddhikā, Tepi amhe-nurakkhantu, Arogena sukhena ca. There are deities who live in the sky and who are of mighty power, deities who live on the earth and who are of mighty power, and there are nāgas who are of mighty power. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
122Có chư thiên đại thần lực đang sống (có niềm tin) trong giáo Pháp này, mong cho chư vị ấy cũng hộ trì cho chúng tôi không có bệnh tật và được an vui. 129. Iddhimanto ca ye devā, Vasantā idha Sāsane, Tepi amhe-nurakkhantu, Arogena sukhena ca. There are deities of great power who live in (have faith in) this Dispensation. May they also protect us by helping us to be free from all disease and to be happy.
123Cầu mong cho các người tránh khỏi tất cả những hoạn nạn. Xin cho người dứt khỏi sầu muộn, bệnh tật. Xin cho những sự nguy khốn không có khởi sanh đến cho các người. Mong cho người có được sự an vui, và được sống lâu. 130. Sabbhītiyo vivajjantu, Soko rogo vinassatu, Mā te bhavantarāyā, Sukhī dīghayuko bhava. May all calamities avoid you. May sorrow and disease be destroyed. May there be no dangers to you. May you have happiness and a long life.
124Cả bốn pháp là sống lâu, sắc tốt, an vui và sức mạnh được tăng trưởng đối với người thường quen đảnh lễ các bậc trưởng thượng. 131. Abhivādanasīlissa, Niccaṁ vuḍḍhāpacāyino, Cattāro dhammā vaḍḍhanti: Āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ. For him who has the habit of paying homage and who always respects the elders, four things increase, namely, life span, beauty, happiness and strength.
125KINH NGÀI AṄGULIMĀLA AṄGULIMĀLA SUTTA AṄGULIMĀLA SUTTA
126132. Đối với người tụng kinh Paritta này mà ngay cả nước rửa sạch chỗ ngồi cũng diệt trừ tất sự nguy hiểm. 132. Parittaṁ yaṁ bhaṇantassa, Nisinnaṭṭhanadhovanaṁ, Udakampi vināseti, Sabba-meva parissayaṁ. Even the water with which the seat of one who recites this protective Sutta is washed, destroys all calamities.
127133. Kinh Paritta này tác động đến việc sanh nở được dễ dàng ngay lập tức, đã được đấng Cứu Tinh nói lên cho Ngài Aṅgulimāla, có đại oai lực, đã được tồn tại trong một a-tăng-kỳ kiếp. Xin các bậc hiền trí! Chúng tôi tụng kinh Paritta này. 133. Sotthinā gabbhavuṭṭhānaṁ, Yañca sādheti taṅkhaṇe, TherassAṅgulimālassa, Lokanāthena bhāsitaṁ, Kappaṭṭhāyiṁ mahātejaṁ, Parittaṁ taṁ bhaṇāme he. This Sutta also brings about an easy delivery for expectant mothers at the very moment it is recited. Oh good people! Let us recite this protective Sutta delivered by the Lord of the world to the Venerable Aṅguliāla, which has great power and lasts for the entire world cycle.
128134. Này chị! Từ lúc tôi đã được sanh ra vào trong dòng Thánh, tôi không cố ý đoạt mạng sống của bất cứ chúng sanh nào, do sự lời chân thật này, mong cho chị và thai nhi được an toàn và an vui. 134. Yatohaṁ, bhagini, ariyāya jatiya jāto, nābhijānāmi saūñcicca pāṇaṁ jīvitā voropetā, Tena saccena sotthi me (or te?) hotu, sotthi gabbhassa. Oh, sister! Ever since I was reborn in this Noble Birth, I do not remember intentionally taking the life of a being. By this utterance of truth, may there be comfort to you and to the child in your womb.
129KINH GIÁC CHI BOJJHAṄGA SUTTA BOJJHAṄGA SUTTA
130Sau khi thông suốt Bảy Pháp Giác Chi mà chúng diệt trừ tất cả khổ đau cho những ai đang luân chuyển trong vòng luân hồi, đập tan được đạo quân Ma Vương. Những chúng sanh cao thượng này đã được thoát khỏi tam hữu, đã đạt đến không sanh, không già, không bệnh, không chết, và không sợ hãi. 135-136. Saṁsāre saṁsarantānaṁ, Sabbadukkhavināsane, Satta dhamme ca Bojjhaṅge, Mārasenāpamaddane, Bujjhitvā ye cime sattā, , Tibhavā muttakuttamā, Ajāti-majarābyādhiṁ, Amataṁ nibbayaṁ gatā. Having known by way of experience the seven kinds of Dhamma called Factors of Enlightenment which destroy all sufferings of beings who wander through this samsāra (round of rebirths) and which defeat the army of Māra, the Evil One, these excellent persons were liberated from the three kinds of existence. They have reached (lit. gone to) Nibbāna where there is no rebirth, ageing, disease, death and danger.
131Kinh Thất Giác Chi này có đầy đủ những ân đức như vậy, còn gồm thâu nhiều lợi ích như là thần dược và thần chú. Xin các bậc hiền trí! Chúng tôi tụng kinh Thất Giác Chi này. 137. Evamādiguṇūpetaṁ, Anekaguṇasaṅgahaṁ, Osadhañca imaṁ mantaṁ, Bojjhaṅgañca bhaṇāma he. Oh good people! Let us recite this Bojjhaṅga Sutta which is endowed with the aforementioned attributes, which gives not a few benefits and which is like a medicine and a mantra.
132Thất Giác Chi ấy tức là: Niệm Giác Chi, cũng vậy Trạch Pháp Giác Chi. Những pháp giác chi khác như là Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi đã được bậc Toàn Kiến Mâu Ni chân chánh thuyết giảng, đã được phát triển; đã được thực hành nhiều lần. Thất Giác Chi này hướng đến thắng trí, giác ngộ và Niết Bàn. Do nhờ lời chân thật này, mong cho bình an luôn luôn phát sanh đến người. 138-139. Bojjhaṅgo satisaṅkhato, Dhammānaṁ vicayo tathā, Vīrimyaṁ pīti passaddhi, Bojjhaṅga ca tathāpare, Samādhupekkhā bojjhaṅgā, Sattete Sabbadassinā Muninā sammadakkhātā Bhāvitā bahulīkatā. 140. Saṁvattanti abhiññāya, Nibbānāya ca bodhiyā, Etena saccavajjena, Sotthi te hotu sabbadā. These seven Factors of Enlightenment, namely; mindfulness, investigation of Dhammas, effort (or energy), zest, tranquility, concentration and equanimity, which are well-expounded by the All Seeing Sage, promote, when practiced repeatedly, penetration of the Truth, cessation of suffering and knowledge of the Path. By this utterance of truth, may there always be happiness for you. Once when the Lord saw Moggallāna and Kassapa being unwell and suffering, he preached the seven Factors of Enlightenment.
133Một hôm, sau khi nhìn thấy Ngài Moggallāna và Ngài Kassapa bị bệnh tật đau khổ, đấng Cứu Tinh đã thuyết Thất Giác Chi. 141. Ekasmiṁ samaye Nātho, Moggallānañca Kassapaṁ, Gilāne dukkhite disvā, Bojjhaṅge satta desayi. They, having rejoiced at the discourse, immediately were freed from the disease. By this utterance of truth, may there always be happiness to you.
134Sau khi hoan hỷ bài thuyết giảng đó; ngay khi ấy, các Ngài đã thoát khỏi bệnh. Do nhờ lời chân thật này, mong cho bình an luôn luôn phát sanh đến người. 142. Te ca taṁ abhinanditvā, Rogā mucciṁsu taṅkhane. Etena saccavajjena, Sotthi te hotu sabbadā. Once when the King of the Dhamma was oppressed by disease, he had the Venerable Cunda recite the discourse respectfully, and having rejoiced at the discourse was immediately
135143-144. Vào một dịp khác, khi đấng Pháp Vương đang bị bệnh dày vò, cũng đã bảo Ngài Cunda tụng kinh Thất Giác Chi ấy một cách kính cẩn. Khi hoan hỷ tràn đầy, ngay lập tức, đức Phật đã lành bệnh ấy. Do nhờ lời chân thật này, mong cho bình an luôn luôn phát sanh đến người. 143-144. Ekadā Dhammarājā pi, Gelaññenābhipīḷito, Cundattherena taṁ yeva, Bhaṇapetvāna sādaraṁ. Sammoditvāna ābādhā, Tamhā vuṭṭhāsi thānaso. Etena saccavajjena, Sotthi te hotu sabbadā. cured of the disease. By this utterance of truth, may there always be happiness to you.
136145. Những căn bệnh của ba vị Đại Ẩn Sĩ cao thượng đã được dứt khỏi, không còn tái phát lại nữa, giống như các phiền não đã được đoạn tận nhờ Thánh Đạo (đạt đến Niết Bàn). Do nhờ lời chân thật này, mong cho bình an luôn luôn phát sanh đến người. 145. Pahīna te ca ābādhā, Tiṇṇannam pi Mahesinaṁ, Maggahatā kilesāva, Pattānuppattidhammataṁ. Etena saccavajjena, Sotthi te hotu sabbadā. The diseases of the three Great Sages that were eradicated reached the stage of never occurring again like the mental defilements eradicated by the Path. By this utterance of truth, may there always be happiness to you.
137KINH BUỔI SÁNG PUBBAṆHA SUTTA PUBBAṆHA SUTTA
138Do nhờ oai lực của đức Phật, cầu mong cho những điềm xấu, điều bất hạnh, tiếng điểu thú nào không hài lòng, sự rủi ro, ác mộng và nghịch cảnh hãy đều tiêu tan. 146. Yaṁ dunnimittaṁ avamaṅgalañca, Yo cāmanāpo sakuṇassa saddo, Pāpaggaho dussupinaṁ akantaṁ, Buddhānubhāvena vināsa-mentu. Whatever bad omens, inauspiciousness, undesirable sounds of birds, unlucky planets, or unpleasant bad dreams there are, may they go to nothing by the power of the Buddha.
139Do nhờ oai lực của giáo Pháp, cầu mong cho những điềm xấu, điều bất hạnh, tiếng điểu thú nào không hài lòng, sự rủi ro, ác mộng và nghịch cảnh hãy đều tiêu tan. 147. Yaṁ dunnimittaṁ avamaṅgalañca, Yo cāmanāpo sakuṇassa saddo, Pāpaggaho dussupinaṁ akantaṁ, Dhammānubhāvena vināsa-mentu. Whatever bad omens, inauspiciousness, undesirable sounds of birds, unlucky planets, or unpleasant bad dreams there are, may they go to nothing by the power of the Dhamma.
140Do nhờ oai lực của Tăng chúng, cầu mong cho những điềm xấu, điều bất hạnh, tiếng điểu thú nào không hài lòng, sự rủi ro, ác mộng và nghịch cảnh hãy đều tiêu tan. 148. Yaṁ dunnimittaṁ avamaṅgalañca, Yo cāmanāpo sakuṇassa saddo, Pāpaggaho dussupinaṁ akantaṁ, Saṁghanubhāvena vināsa-mentu. Whatever bad omens, inauspiciousness, undesirable sounds of birds, unlucky planets, or unpleasant bad dreams there are, may they go to nothing by the power of the Saṁgha.
141Tất cả chúng sanh đến đau khổ rồi, xin đừng cho có đau khổ; đến sợ hãi rồi, xin đừng cho sợ hãi; và đến sầu muộn rồi, xin đừng cho sầu muộn. 149. Dukkhappattā ca niddukkhā, Bhayappattā ca nibbayā, Sokappattā ca nissokā, Hontu sabbe pi pāṇino. May all suffering beings be free from suffering. May all fear-struck beings be free from fear. May all grief-stricken beings be free from grief.
142Cầu mong tất cả chư thiên tùy hỷ việc thành tựu phước báu đã được chúng tôi tạo trữ này, cho đặng thành tựu tất cả những hạnh phúc. 150. Ettāvatā ca amhehi Sambhataṁ, puññasampadaṁ, Sabbe devānumodantu, Sabbasampattisiddhiyā. For the acquisition of all kinds of happiness, may all deities rejoice in the accomplishment of merit which we have thus acquired.
143Cầu mong chư vị bố thí bằng niềm tin, hãy luôn luôn hộ trì giới luật, hãy là những người hoan hỷ việc tu thiền. Chư thiên đã đến rồi, xin thỉnh các ngài hồi quy. 151. Dānaṁ dadantu saddhāya, Sīlaṁ rakkhantu sabbadā, Bhāvanābhiratā hontu, Gacchantu devatāgatā. May you all practice charity with faith (in the Triple Gem). May you always keep moral precepts. May you all rejoice in mind-development. May the deities who have come (to the recitation) go back (to their homes).
144Do nhờ oai lực mà tất cả chư Phật đã đạt đến Phật lực, cũng như năng lực của chư Phật Độc Giác, và của các vị A-la-hán, cầu mong cho con kết hợp trọn cả sự hộ trì. 152. Sabbe Buddhā balappattā, Paccekānañca yaṁ balaṁ, Arahantānañca tejena, Rakkhaṁ bandhāmi sabbaso. By the power of those Buddhas who possessed great physical and intellectual strength, and of the Pacceka Buddhas and of the Arahants, I create protection for all times.
145Cho dù kho báu nào ở thế giới này hay ở thế giới khác; hay báu vật cao quý nào ở trên cõi trời. Báu vật đó không sánh bằng với Như Lai. Thật vậy, chư Phật là châu báu thù diệu; do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 153. Yaṁ kiñci vittaṁ idha vā huraṁ vā, Saggesu vā yaṁ ratanaṁ paṇītaṁ, Na no samaṁ atthi Tathāgatena. Idampi Buddhe ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. Whatever treasures there be either here or in the world beyond, or whatever precious jewel is in the world of the deities, there is none equal to the Accomplished One. In the Buddha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
146Cho dù kho báu nào ở thế giới này hay ở thế giới khác; hay báu vật cao quý nào ở trên cõi trời. Báu vật đó không sánh bằng với Như Lai. Thật vậy, giáo Pháp là châu báu thù diệu; do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 154. Yaṁ kiñci vittaṁ idha vā huraṁ vā, Saggesu vā yaṁ ratanaṁ paṇītaṁ, Na no samaṁ atthi Tathāgatena. Idampi Dhamme ratanaṁ paṇītaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. Whatever treasures there be either here or in the world beyond, or whatever precious jewel is in the world of the deities, there is none equal to the Accomplished Dhamma. In the Dhamma is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
147Cho dù kho báu nào ở thế giới này hay ở thế giới khác; hay báu vật cao quý nào ở trên cõi trời. Báu vật đó không sánh bằng với Như Lai. Thật vậy, Tăng chúng là châu báu thù diệu; do lời chân thật này, mong cho được thạnh lợi. 155. Yaṁ kiñci vittaṁ idha va huraṁ va, Saggesu va yaṁ ratanaṁ paṇitaṁ, Na no samaṁ atthi Tathāgatena. Idampi Saṅghe ratanaṁ paṇitaṁ, Etena saccena suvatthi hotu. Whatever treasures there be either here or in the world beyond, or whatever precious Jewel is in the world of the deities, there is none equal to the Accomplished Saṁgha. In the Saṁgha is this precious jewel. By this utterance of truth, may there be happiness.
148Mong cho tất cả hạnh phúc hãy có đến người; cầu mong chư thiên hộ trì cho người. Do nhờ oai lực của tất cả chư Phật, cầu mong cho người luôn luôn được sự an vui. 156. Bhavatu sabbamaṅgalaṁ, Rakkhantu sabbadevatā, Sabba-Buddhānubhāvena, Sadā sukhī bhavantu te. May there be all blessings. May all deities give protection. By the power of all Buddhas, may all beings be happy.
149Mong cho tất cả hạnh phúc hãy có đến người; cầu mong chư thiên hộ trì cho người. Do nhờ oai lực của tất cả các Pháp, cầu mong cho người luôn luôn được sự an vui. 157. Bhavatu sabbamaṅgalaṁ, Rakkhantu sabbadevatā, Sabba-Dhammānubhāvena, Sada sukhī bhavantu te. May there be all blessings. May all deities give protection. By the power of all Dhammas, may all beings be happy.
150Mong cho tất cả hạnh phúc hãy có đến người; cầu mong chư thiên hộ trì cho người. Do nhờ oai lực của tất cả Tăng chúng, cầu mong cho người luôn luôn được sự an vui. 158. Bhavatu sabbamaṅgalaṁ, Rakkhantu sabbadevatā, Sabba-Saṁghānubhāvena, Sadā sukhī bhavantu te. May there be all blessings. May all deities give protection. By the power of all Saṁghas, may all beings be happy.
151Đấng Cứu Tinh có lòng đại bi, sau khi đã thành tựu tất cả các pháp Ba-la-mật vì lợi ích cho tất cả chúng sanh, Ngài đã đạt đến Vô Thượng Đẳng1 Giác. Do lời chân thật này, mong cho hạnh phúc luôn luôn đến người. 159. Mahākāruṇiko Natho, Hitāya sabbapāṇinaṁ, Pūretvā pāramī sabbā, Patto sambodhi-muttamaṁ. Etena saccavajjena, Sotthi te hotu sabbadā. The Lord who is possessed of Great Compassion fulfilled all the Perfections for the benefit of all beings and reached the highest state as the Fully Enlightened One. By this utterance of truth, may there always be happiness for you.
152Sự tăng trưởng niềm hoan hỷ của dòng Sākya, là vị đã chiến thắng dưới cội cây Bồ Đề. Do điều này như vậy, mong cho được thắng lợi. Cầu mong cho người được thắng lợi và hạnh phúc. 160. Jayanto bodhiyā mūle, Sakyānaṁ nandivaḍḍhano, Eva-meva jayo hotu, Jayassu jayamaṅgale. That joy-enhancer of the Sakyas was victorious at the foot of the Tree of Enlightenment. Even so, may there be victory. May you attain joyous victory.
153Đức Phật hoan hỷ, đã đạt đến pháp cao thượng trên Bồ Đoàn bất khả chiến bại, là nơi thù thắng nhất trên mặt đất, là nơi tôn phong của tất cả chư Phật. 161. Aparājita-pallaṅke, Sīse puthuvipukkhale, Abhiseke sabba-Buddhānaṁ Aggappatto pamodati. That joy-enhancer of the Sakyas rejoices having reached the highest state at the spot which is undefeatable, the best on the earth, and the consecration place of all Buddhas.
154(Những việc thiện đã được làm trong ngày), là ngôi sao tốt lành, là hạnh phúc tốt đẹp, là buổi sáng bình an, là sự thức dậy tỉnh táo, là khoảnh khắc thanh bình, là sát na xán lạn, tích tắc hoàn hảo, và là sự cúng dường đến các vị hành phạm hạnh. 162. Sunakkhattaṁ sumaṅgalaṁ, Suppabhātaṁ suhuṭṭhitaṁ, Sukhaṇo, sumuhutto ca, Suyiṭṭhaṁ brahmacārisu. On the day meritorious deeds are performed, the stars are auspicious, blessings are auspicious, daybreak is auspicious, waking is auspicious, the moment is auspicious, and the time is auspicious. Offerings made to the holy ones on such a day are well-offered.
155Thân nghiệp được phù hợp, khẩu nghiệp được phù hợp, ý nghiệp được phù hợp; đó là những ước nguyện phù hợp. 163. Padakkhiṇaṁ kāyakammaṁ, Vācākammaṁ padakkhiṇaṁ, Padakkhiṇaṁ manokammaṁ, Paṇīdhi te padakkhiṇe. On such a day all bodily actions are felicitous, all verbal actions are felicitous, and all mental actions are felicitous. These three kinds of action are established in felicity.
156Khi người làm những việc thiện (phù hợp), họ thu hoạch được những quả lành. Những vị ấy đã được sự lợi ích, sự an vui, sự tiến hóa trong giáo Pháp của đức Phật; cầu mong cho người cùng với tất cả thân quyến không bệnh tật, được sự an vui. 164. Padakkhiṇāni katvāna, Labhantatthe padakkhiṇe, Te atthaladdhā dukhitā, Virūḷhā Buddhasāsane, Arogā sukhitā hotha, Saha sabbehi ñātibhi. People do good actions and therefore get good results. Having obtained good results and growth in the Dispensation of the Buddha (Buddha sāsana), may you have bliss, be free from disease and be happy together with all you r relatives.
157Kinh Buổi Sáng đã được chấm dứt. Pubbaṇha-suttaṁ Niṭṭhitaṁ. End of Pubbaṇha Sutta
158NguồnNguồnSource

© vdpzoom.com

---