
| Kinh Mũi Tên | |||
|---|---|---|---|
| Việt | Pāli | ||
| 1 | Kinh Mũi Tên | Sallasuttaṃ | |
| 2 | 577. Mạng sống của loài người ở đây là không có sự báo hiệu, không được biết chắc, khó khăn, ngắn ngủi, và nó bị gắn liền với khổ đau. | 577. Animittamanaññātaṃ maccānaṃ idha jīvitaṃ, kasirañca parittañca tañca dukkhena saññutaṃ. | |
| 3 | 578. Thật sự không có phương thức nào khiến cho những kẻ đã được sanh ra (sẽ) không chết; sau khi đạt đến tuổi già (hay chưa đạt đến) cũng sẽ có cái chết, bởi vì các sinh mạng có quy luật là như vậy. | 578. Na hi so upakkamo atthi yena jātā na mīyare, jarampi patvā maraṇaṃ evaṃdhammā hi pāṇino. | |
| 4 | 579. Tựa như nỗi sợ hãi về sự rơi rụng vào buổi sáng của những trái cây đã chín, nỗi sợ hãi thường xuyên về sự chết của những con người đã được sanh ra là như vậy. | 579. Phalānamiva pakkānaṃ pāto patanato bhayaṃ, evaṃ jātānamaccānaṃ niccaṃ maraṇato bhayaṃ. | |
| 5 | 580. Cũng giống như bát đĩa bằng đất sét đã được làm ra bởi người thợ gốm, tất cả có sự bể vỡ là chặng cuối, mạng sống của loài người là như vậy. | 580. Yathāpi kumbhakārassa katā mattikabhājanā, sabbe bhedanapariyantā evaṃ maccāna jīvitaṃ. | |
| 6 | 581. Những ai ngu si và những ai sáng suốt, các trẻ con và những người lớn, tất cả đều sa vào quyền lực của thần chết, tất cả đều có sự chết là nơi cuối cùng. | 581. Daharā ca mahantā ca ye bālā ye ca paṇḍitā, sabbe maccuvasaṃ yanti sabbe maccuparāyanā. | |
| 7 | 582. Khi những người ấy đã bị chế ngự bởi thần chết và đang đi đến thế giới khác, người cha không thể bảo vệ con trai, hoặc ngay cả thân nhân không thể bảo vệ các quyến thuộc. | 582. Tesaṃ maccuparetānaṃ gacchataṃ paralokato, na pitā tāyate puttaṃ ñātī vā pana ñātake. | |
| 8 | 583. Ngươi hãy nhìn xem, trong số các thân quyến thật sự đang xem xét, đang than khóc thê thảm, từng người một trong số loài người bị đưa đi, ví như loài bò là để giết thịt. | 583. Pekkhataṃ yeva ñātīnaṃ passa lālapataṃ puthu, ekameko ca maccānaṃ govajjho viya nīyati. | |
| 9 | 584. Thế gian bị hành hạ như vậy bởi cái chết và sự già; vì thế sau khi biết được bản thể của thế gian các bậc sáng trí không sầu muộn. | 584. Evamabbhāhato loko maccunā ca jarāya ca, tasmā dhīrā na socanti viditvā lokapariyāyaṃ. | |
| 10 | 585. Ngươi không biết lộ trình đi đến (sanh) hoặc ra đi (chết) của kẻ ấy, trong khi không nhìn thấy cả hai chặng, ngươi than vãn một cách vô ích. | 585. Yassa maggaṃ na jānāsi āgatassa gatassa vā, ubho ante asampassaṃ niratthaṃ paridevasi. | |
| 11 | 586. Nếu trong lúc than vãn, trong lúc hành hạ bản thân, kẻ bị mê muội có thể tạo nên lợi ích nào đó, thì người khôn khéo cũng nên làm điều ấy. | 586. Paridevayamāno ce kañci atthaṃ udabbahe, sammūḷho hiṃsamattānaṃ kayirā cenaṃ vicakkhaṇo. | |
| 12 | 587. Hiển nhiên với việc khóc lóc, với sự sầu muộn, thì không đạt được sự an tịnh của tâm, khổ đau sanh lên cho người này còn nhiều hơn; cơ thể của người này bị tổn hại. | 587. Na hi runtena sokena santiṃ pappoti cetaso, bhīyassuppajjate dukkhaṃ sarīraṃ upahaññati. | |
| 13 | 588. Trong khi tự mình hãm hại mình, (người này) trở nên gầy ốm, xuống sắc, những người đã quá vãng không được trợ giúp do việc ấy; sự than vãn là không có lợi ích. | 588. Kiso vivaṇṇo bhavati hiṃsamattānamattanā, na tena petā pālenti niratthā paridevanā. | |
| 14 | 589. Trong khi không dứt bỏ sầu muộn, con người đọa vào khổ đau nhiều hơn nữa; trong khi khóc lóc kẻ đã quá vãng, con người chịu sự tác động của sầu muộn. | 589. Sokamappajahaṃ jantu bhiyyo dukkhaṃ nigacchati, anutthunanto kālakataṃ sokassa vasamanvagū. | |
| 15 | 590. Hãy nhìn xem những kẻ khác cũng có sự ra đi, những con người đi theo nghiệp lực, các sinh mạng ở nơi này quả nhiên run rẩy sau khi rơi vào quyền lực của thần chết. | 590. Aññepi passa gamine yathākammūpage nare, maccuno vasamāgamma phandantevidha pāṇino. | |
| 16 | 591. Dầu họ suy nghĩ thế này thế khác, kết quả từ đó trở nên khác hẳn. Việc chia cách là như thế ấy; ngươi hãy nhìn xem bản thể của thế gian. | 591. Yena yena hi maññanti tato taṃ hoti aññathā, etādiso vinābhāvo passa lokassa pariyāyaṃ. | |
| 17 | 592. Thậm chí nếu người trai trẻ có thể sống một trăm năm, hoặc hơn thế nữa, rồi cũng (sẽ) tách rời khỏi tập thể thân quyến, cũng (sẽ) từ bỏ mạng sống ở nơi này. | 592. Api ce vassasataṃ jīve bhīyo vā pana mānavo, ñātisaṅghā vinā hoti jānāti idha jīvitaṃ. | |
| 18 | 593. Bởi thế, sau khi lắng nghe (lời giảng dạy của) bậc A-la-hán, nên chừa bỏ việc than vãn. Sau khi nhìn thấy người quá vãng đã lìa đời, (nên biết rằng) ‘Người ấy không thể nào (trở lại) với ta.’ | 593. Tasmā arahato sutvā vineyya paridevitaṃ, petaṃ kālakataṃ disvā na so labbhā mayā iti. | |
| 19 | 594. Giống như người có thể dùng nước dập tắt chỗ ở bị đốt cháy, cũng tương tự như thế, người can đảm, có trí tuệ, sáng suốt, thiện xảo có thể mau chóng xua tan sự sầu muộn đã được sanh khởi, tựa như làn gió thổi bay sợi bông gòn. | 594. Yathā saraṇamādittaṃ vārinā parinibbuto, evampi dhīro sappañño paṇḍito kusalo naro, khippamuppatitaṃ sokaṃ vāto tūlaṃva dhaṃsaye. | |
| 20 | 595. Người tầm cầu sự an lạc cho bản thân nên nhổ lên mũi tên của mình, sự than vãn, sự khởi tham muốn, và nỗi ưu phiền của bản thân. | 595. Paridevaṃ pajappañca domanassañca attano, attano sukhamesāno abbahe sallamattano. | |
| 21 | 596. Người có mũi tên đã được nhổ lên, không còn lệ thuộc, sau khi đã đạt được sự an tịnh của tâm, trong khi vượt qua mọi sầu muộn, trở thành không còn sầu muộn, được tịch tịnh. | 596. Abbūḷhasallo asito santiṃ pappuyya cetaso, sabbasokaṃ atikkanto asoko hoti nibbutoti. | |
| 22 | Nguồn | Nguồn | |
---