Dhammā kusalā (2)

Tâm đại thiện (2)

Katamo tasmiṁ samaye phasso hoti?

Thế nào là xúc trong khi ấy?

Yo tasmiṁ samaye phasso phusanā samphusanā samphusitattaṁ—ayaṁ tasmiṁ samaye phasso hoti.

Trong khi ấy, pháp mà đụng chạm,va chạm tư cách đối xúc, trạng thái đối xúc. Ðây là xúc trong khi ấy.

Katamā tasmiṁ samaye vedanā hoti?

Thế nào là thọ trong khi ấy?

Yaṁ tasmiṁ samaye tajjāmanoviññāṇadhātusamphassajaṁ cetasikaṁ sātaṁ cetasikaṁ sukhaṁ cetosamphassajaṁ sātaṁ sukhaṁ vedayitaṁ cetosamphassajā sātā sukhā vedanā—ayaṁ tasmiṁ samaye vedanā hoti.

Trong khi ấy pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, dể chịu thuộc về tâm, sanh từ xúc ý thức giới đó, là trạng thái cảm thọ sảng khoái, dể chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sảng khoái dể chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là thọ trong khi ấy.

Katamā tasmiṁ samaye saññā hoti?

Thế nào là tưởng trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye tajjāmanoviññāṇadhātusamphassajā saññā sañjānanā sañjānitattaṁ—ayaṁ tasmiṁ samaye saññā hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự nhận ra, sự nhận biết, thái độ cố nhận biết sanh từ xúc ý thức giới đó. Ðây là tưởng trong khi ấy.

Katamā tasmiṁ samaye cetanā hoti?

Thế nào là tư trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye tajjāmanoviññāṇadhātusamphassajā cetanā sañcetanā cetayitattaṁ — saṁcetayitattaṁ ayaṁ tasmiṁ samaye cetanā hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự tính toán, sự cố quyết, thái độ cố quyết, sanh từ xúc ý thức giới đó. Ðây là tư trong khi ấy.

Katamaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ hoti?

Thế nào là tâm trong khi ấy?

Yaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ mano mānasaṁ hadayaṁ paṇḍaraṁ mano manāyatanaṁ manindriyaṁ viññāṇaṁ viññāṇakkhandho tajjāmanoviññāṇadhātu—idaṁ tasmiṁ samaye cittaṁ hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự biết tức là ý, tâm địa, tâm tạng, bạch tịnh, ý, ý xứ, ý quyền, thức uẩn, ý thức giới sanh từ đây. Ðây là tâm trong khi ấy.

Katamo tasmiṁ samaye vitakko hoti?

Thế nào là tầm trong khi ấy?

Yo tasmiṁ samaye takko vitakko saṅkappo appanā byappanā cetaso abhiniropanā sammāsaṅkappo—ayaṁ tasmiṁ samaye vitakko hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự tìm cảnh, sự nghĩ ngợi, sự suy xét, sự chuyên chú, sự hướng tâm sự đem tâm khắn khít cảnh, chánh tư duy. Ðây là tầm trong khi ấy.

Katamo tasmiṁ samaye vicāro hoti?

Thế nào là tứ trong khi ấy?

Yo tasmiṁ samaye cāro vicāro anuvicāro upavicāro cittassa anusandhānatā anupekkhanatā—anusandhanatā ayaṁ tasmiṁ samaye vicāro hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự gìn giữ, sự giám sát, sự bám sát, sự chăm nom, trạng thái khắn khít, thái độ xem xét của tâm. Ðây là tứ trong khi ấy.

Katamā tasmiṁ samaye pīti hoti?

Thế nào là hỷ trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye pīti pāmojjaṁ āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṁ attamanatā cittassa—ayaṁ tasmiṁ samaye pīti hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự mừng vui, sự no vui, sự hân hoan, sự hỷ duyệt, sự hài lòng, sự vui vẻ, sự phấn khởi, sự thích thú, sự hoan hỷ của tâm. Ðây là sự hỷ trong khi ấy.

Katamaṁ tasmiṁ samaye sukhaṁ hoti?

Thế nào là lạc trong khi ấy?

Yaṁ tasmiṁ samaye cetasikaṁ sātaṁ cetasikaṁ sukhaṁ cetosamphassajaṁ sātaṁ sukhaṁ vedayitaṁ cetosamphassajā sātā sukhā vedanā—idaṁ tasmiṁ samaye sukhaṁ hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự sảng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc sự cảm giác sảng khoái, dễ chịu sanh từ tâm xúc. Ðây là lạc trong khi ấy.

Katamā tasmiṁ samaye cittassekaggatā hoti?

Thế nào là nhất hành tâm trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti avisāhāro avikkhepo avisāhaṭamānasatā samatho samādhindriyaṁ samādhibalaṁ sammāsamādhi — ayaṁ tasmiṁ samaye cittassekaggatā hoti.

Trong khi ấy, đối với tâm có pháp là sự đình trụ, sự vững trú, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không lao chao, tính cách tâm không xao xuyến, chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Ðây là nhất hành tâm trong khi ấy.

Katamaṁ tasmiṁ samaye saddhindriyaṁ hoti?

Thế nào là tín quyền trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye saddhā saddahanā okappanā abhippasādo saddhā saddhindriyaṁ saddhābalaṁ—idaṁ tasmiṁ samaye saddhindriyaṁ hoti.

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín ; tín là tín quyền, tín lực. Ðây là tín quyền trong khi ấy.

Katamaṁ tasmiṁ samaye vīriyindriyaṁ hoti?

Thế nào là tấn quyền trong khi ấy?

Yo tasmiṁ samaye cetasiko vīriyārambho nikkamo parakkamo uyyāmo vāyāmo ussāho ussoḷhī thāmo dhiti asithilaparakkamatā anikkhittachandatā anikkhittadhuratā dhurasampaggāho vīriyaṁ vīriyindriyaṁ vīriyabalaṁ sammāvāyāmo — idaṁ tasmiṁ samaye vīriyindriyaṁ hoti.

Trong khi ấy, pháp thuộc về tâm, có sự cố gắng, cần cố, ráng sức, chuyên cần, tinh cần, siêng năng, nỗ lực, dốc lòng, nghị lực, không nhủn chí, không bỏ qua nguyện vọng, không bỏ qua phận sự, phò trì trách nhiệm; tấn là tấn quyền, tấn lực, chánh tinh tấn. Ðây là tấn quyền trong khi ấy.

Katamaṁ tasmiṁ samaye satindriyaṁ hoti?

Thế nào là niệm quyền trong khi ấy?

Yā tasmiṁ samaye sati anussati paṭissati sati saraṇatā dhāraṇatā apilāpanatā asammussanatā sati satindriyaṁ satibalaṁ sammāsati — idaṁ tasmiṁ samaye satindriyaṁ hoti.

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tuỳ niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Ðây là niệm quyền trong khi ấy.

https://suttacentral.net/ds2.1.1/pli/ms

https://www.budsas.org/uni/u-vdp1/vdp1-01.htm

© vdpzoom.com

---