Diṭṭhikathā

Giảng về Kiến

Kā diṭṭhi, kati diṭṭhiṭṭhānāni, kati diṭṭhipariyuṭṭhānāni, kati diṭṭhiyo, kati diṭṭhābhinivesā, katamo diṭṭhiṭṭhānasamugghātoti?

Kiến là gì? Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có bao nhiêu loại kiến? Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến?

Kā diṭṭhīti? abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

1. Kiến là gì? Sự cố chấp và bám víu là kiến.

Kati diṭṭhiṭṭhānānīti? aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni.

2. Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có tám cơ sở của kiến.

Kati diṭṭhipariyuṭṭhānānīti? aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni.

3. Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.

Kati diṭṭhiyoti? soḷasa diṭṭhiyo.

4. Có bao nhiêu loại kiến? Có mười sáu loại kiến.

Kati diṭṭhābhinivesāti? tīṇi sataṃ diṭṭhābhinivesā.

5. Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Có ba trăm sự cố chấp của kiến.

Katamo diṭṭhiṭṭhānasamugghātoti sotāpattimaggo diṭṭhiṭṭhānasamugghāto.

6. Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến? Đạo Nhập Lưu là sự tiêu diệt cơ sở của kiến.

Kathaṃ abhinivesaparāmāso diṭṭhi?

Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) thế nào?

Rūpaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Vedanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về thọ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Saññaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Saṅkhāre etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Viññāṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

...

...

Avijjaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu về vô minh rằng: ‘Cái này là của tôi …

Saṅkhāre etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi …

viññāṇaṃ etaṃ mama … nāmarūpaṃ etaṃ mama … saḷāyatanaṃ etaṃ mama …

về thức … về danh sắc … về sáu xứ …

phassaṃ etaṃ mama … vedanaṃ etaṃ mama … taṇhaṃ etaṃ mama …

về xúc … về thọ … về ái …

upādānaṃ etaṃ mama … bhavaṃ etaṃ mama …

về thủ … về hữu …

jātiṃ etaṃ mama …

về sanh rằng: ‘Cái này là của tôi …

jarāmaraṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti—abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

về lão tử rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Evaṃ abhinivesaparāmāso diṭṭhi.

Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) như thế.

Katamāni aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni?

Tám cơ sở của kiến là gì?

Khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

Uẩn là cơ sở của kiến,

avijjāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

vô minh cũng là cơ sở của kiến,

phassopi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

xúc cũng là cơ sở của kiến,

saññāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

tưởng cũng là cơ sở của kiến,

vitakkopi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

tầm cũng là cơ sở của kiến,

ayoniso manasikāropi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến,

pāpamittopi diṭṭhiṭṭhānaṃ,

bạn xấu cũng là cơ sở của kiến,

paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānaṃ.

lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến.

Khandhā hetu khandhā paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena

Các uẩn là nhân, các uẩn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi;

—evaṃ khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ.

như thế các uẩn là cơ sở của kiến.

Avijjā hetu avijjā paccayo ...

Vô minh là nhân, vô minh là duyên, ...

Phasso hetu phasso paccayo ...

Xúc là nhân, xúc là duyên, ...

Saññā hetu saññā paccayo ...

Tưởng là nhân, tưởng là duyên, ...

Vitakko hetu vitakko paccayo ...

Tầm là nhân, tầm là duyên, ...

Ayoniso manasikāro hetu ayoniso manasikāro paccayo ...

Tác ý không đúng đắn là nhân, tác ý không đúng đắn là duyên, ...

Pāpamitto hetu pāpamitto paccayo ...

Bạn xấu là nhân, bạn xấu là duyên, ...

Paratoghoso hetu paratoghoso paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena

Lời nói của kẻ khác là nhân, lời nói của kẻ khác là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi;

—evaṃ paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānaṃ.

như thế lời nói của kẻ khác là cơ sở của kiến.

Imāni aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni.

Đây là tám cơ sở của kiến.

Katamāni aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni?

Mười tám cơ sở xâm nhập của kiến là gì?

Yā diṭṭhi diṭṭhigataṃ, diṭṭhigahanaṃ,

Kiến thiên lệch, kiến nắm giữ,

diṭṭhikantāraṃ, diṭṭhivisūkaṃ,

kiến hiểm độc, kiến mâu thuẫn,

diṭṭhivipphanditaṃ, diṭṭhisaññojanaṃ,

kiến dao động, kiến ràng buộc,

diṭṭhisallaṃ, diṭṭhisambādho,

kiến xuyên suốt, kiến áp chế,

diṭṭhipalibodho, diṭṭhibandhanaṃ,

kiến vướng bận, kiến trói buộc,

diṭṭhipapāto, diṭṭhānusayo,

kiến sa đọa, kiến ngủ ngầm,

diṭṭhisantāpo, diṭṭhipariḷāho,

kiến thiêu đốt, kiến thống khổ,

diṭṭhigantho, diṭṭhupādānaṃ,

kiến khúc mắc, kiến chấp thủ,

diṭṭhābhiniveso, diṭṭhiparāmāso

kiến cố chấp, kiến bám víu.

imāni aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni.

Đây là mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.

Katamā soḷasa diṭṭhiyo?

Mười sáu loại kiến là gì?

Assādadiṭṭhi, attānudiṭṭhi,

Khoái lạc kiến, tùy ngã kiến,

micchādiṭṭhi, sakkāyadiṭṭhi,

tà kiến, thân kiến,

sakkāyavatthukā sassatadiṭṭhi, sakkāyavatthukā ucchedadiṭṭhi,

thường kiến lấy thân làm nền tảng, đoạn kiến lấy thân làm nền tảng,

antaggāhikā diṭṭhi, pubbantānudiṭṭhi,

hữu biên kiến, quá khứ hữu biên kiến,

aparantānudiṭṭhi, saññojanikā diṭṭhi,

vị lai hữu biên kiến, kiến có sự ràng buộc,

ahanti mānavinibandhā diṭṭhi, mamanti mānavinibandhā diṭṭhi,

kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’ , kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’

attavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi, lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi,

kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới,

bhavadiṭṭhi, vibhavadiṭṭhi

hữu kiến, phi hữu kiến.

imā soḷasa diṭṭhiyo.

Đây là mười sáu loại kiến.

Tayo puggalā vipannadiṭṭhī, tayo puggalā sampannadiṭṭhī.

Có 3 hạng người có kiến bị hư hỏng, có 3 hạng người có kiến được thành tựu.

Katame tayo puggalā vipannadiṭṭhī?

Ba hạng người nào có kiến bị hư hỏng?

Titthiyo ca, titthiyasāvako ca, yo ca micchādiṭṭhiko—ime tayo puggalā vipannadiṭṭhī.

Ngoại đạo, đệ tử của ngoại đạo, và người có tà kiến; Ba hạng người này có kiến bị hư hỏng.

Katame tayo puggalā sampannadiṭṭhī?

Ba hạng người nào có kiến được thành tựu?

Tathāgato ca, tathāgatasāvako ca, yo ca sammādiṭṭhiko—ime tayo puggalā sampannadiṭṭhī.

Đức Như Lai, đệ tử của đức Như Lai, và người có chánh kiến. Ba hạng người nào có kiến được thành tựu.

Kodhano upanāhī ca, pāpamakkhī ca yo naro;
Vipannadiṭṭhi māyāvī, taṃ jaññā vasalo iti.

Người giận dữ, oán hận, xấu xa, và quỷ quyệt,
kiến hư hỏng, ngu muội, biết là kẻ hạ tiện.

Akkodhano anupanāhī, visuddho suddhataṃ gato;
Sampannadiṭṭhi medhāvī, taṃ jaññā ariyo itīti.

Không giận dữ, không oán, thanh tịnh, hành Đạo Quả,
kiến thành tựu, sáng suốt, biết được là bậc Thánh.

Tisso vipannadiṭṭhiyo, tisso sampannadiṭṭhiyo.

Có ba kiến bị hư hỏng, có ba kiến được thành tựu.

Katamā tisso vipannadiṭṭhiyo?

Ba kiến nào bị hư hỏng?

Etaṃ mamāti—vipannadiṭṭhi.

‘Cái này là của tôi’ là kiến bị hư hỏng,

Esohamasmīti—vipannadiṭṭhi.

‘Cái này là tôi’ là kiến bị hư hỏng,

Eso me attāti—vipannadiṭṭhi.

‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến bị hư hỏng.

Imā tisso vipannadiṭṭhiyo.

Đây là 3 kiến bị hư hỏng.

Katamā tisso sampannadiṭṭhiyo?

Ba kiến nào được thành tựu?

Netaṃ mamāti—sampannadiṭṭhi.

‘Cái này không phải là của tôi’ là kiến được thành tựu,

Nesohamasmīti—sampannadiṭṭhi.

‘Cái này không phải là tôi’ là kiến được thành tựu,

Na meso attāti—sampannadiṭṭhi.

‘Cái này không phải là tự ngã của tôi’ là kiến được thành tựu.

Imā tisso sampannadiṭṭhiyo.

Đây là 3 kiến được thành tựu.

Etaṃ mamāti—kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo?

‘Cái này là của tôi’ là kiến gì, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào?

Esohamasmīti—kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo?

‘Cái này là của tôi’ là kiến gì, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào?

Eso me attāti—kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo?

‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến gì, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào?

Etaṃ mamāti—pubbantānudiṭṭhi. Aṭṭhārasa diṭṭhiyo. Pubbantānuggahitā tā diṭṭhiyo.

‘Cái này là của tôi’ là quá khứ hữu biên kiến. Có 18 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ.

Esohamasmīti—aparantānudiṭṭhi. Catucattārīsaṃ diṭṭhiyo. Aparantānuggahitā tā diṭṭhiyo.

‘Cái này là của tôi’ là vị lai hữu biên kiến. Có 44 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) vị lai.

Eso me attāti—vīsativatthukā attānudiṭṭhi. Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi. Sakkāyadiṭṭhippamukhāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni; sakkāyadiṭṭhipamukhāni, Pubbantāparantānuggahitā tā diṭṭhiyo.

‘Cái này là tự ngã của tôi’ là tùy ngã kiến với 20 nền tảng, là thân kiến với 20 nền tảng, là 62 thiên kiến có thân kiến đứng đầu, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ và vị lai.

“Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṃ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā.

Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến.

Tesaṃ diṭṭhisampannānaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.

Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.

Katamesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā?

Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào?

Sattakkhattuparamassa,

Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần,

kolaṅkolassa,

đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá,

ekabījissa,

đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh),

sakadāgāmissa,

đối với vị Nhất Lai,

yo ca diṭṭheva dhamme arahā

và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này,

—imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā.

có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.

Katamesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā?

Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào?

Antarāparinibbāyissa,

Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp,

upahaccaparinibbāyissa,

đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp,

asaṅkhāraparinibbāyissa,

đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn,

sasaṅkhāraparinibbāyissa,

đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn,

uddhaṃsotassa, akaniṭṭhagāmino

đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh,

—imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.

có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.

Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṃ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā.

Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến.

Tesaṃ diṭṭhisampannānaṃ imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.

Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.

Ye keci, bhikkhave, mayi aveccappasannā, sabbe te sotāpannā.

Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta, những người ấy là các vị Nhập Lưu.

Tesaṃ sotāpannānaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.

Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.

Katamesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā?

Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào?

Sattakkhattuparamassa,

Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần,

kolaṅkolassa,

đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá,

ekabījissa,

đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh),

sakadāgāmissa,

đối với vị Nhất Lai,

yo ca diṭṭheva dhamme arahā

và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này,

—imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā.

có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.

Katamesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā?

Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào?

Antarāparinibbāyissa,

Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp,

upahaccaparinibbāyissa,

đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp,

asaṅkhāraparinibbāyissa,

đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn,

sasaṅkhāraparinibbāyissa,

đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn,

uddhaṃsotassa akaniṭṭhagāmino

đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh,

—imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.

có sự thành toàn sau khi rời nơi đây đối với năm hạng này.

Ye keci, bhikkhave, mayi aveccappasannā, sabbe te sotāpannā.

Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta những người ấy là các vị Nhập Lưu.

Tesaṃ sotāpannānaṃ imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā. Imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā”ti.

Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.

https://tipitaka.org/romn/cscd/s0517m.mul0.xml

https://suttacentral.net/ps1.2/vi/indacanda

© vdpzoom.com

---