www.tudieu.de

Biện Giải Tâm Pháp - Ghi chú

← 14 Trang Đầu
[ 15 ]
16 →


Puc: Hãy trưng dẫn những trường hợp tâm đổng lực thiện có Thọ không tương ứng với cảnh sở tri.

Vis:
  1. Do chánh niệm tỉnh giác mà khởi lên đổng lực thiện xả thọ trong cảnh cực tốt như vị hành giả tu tập về đề mục "vật thực đáng gớm" thì trước các mỹ vị ngon lành vị ấy vẫn thờ ơ hờ hững. Hoặc trường hợp hành giả tu Quán đứng trước cảnh trần hấp dẫn chẳng hạn.
  2. Do tín hay chánh niệm tỉnh giác nên khởi lên đổng lực thiện hỷ thọ trong cảnh tương đối tốt. như người dồi dào tịnh tín trông thấy đông đảo chư tăng thì liên tưởng tới Ðức Phật cùng thánh chúng xưa kia, cho dù chư tăng trước mặt họ có là những vị trẻ tuổi, bé nhỏ đi nữa.
  3. Do chánh niệm tỉnh giác mà khởi lên đổng lực thiện hỷ thọ hay xả thọ trong cảnh cực xấu hoặc tương đối xấu. Như trường hợp hành giả tu Quán đang quan sát tử thi chẳng hạn.

Puc: Y cứ vào đâu để nói rằng đó là cảnh tốt (iṭṭhārammaṇa), cảnh xấu (aniṭṭhārammaṇa)?

Vis: Ðể phân định đâu là cảnh tốt, đâu là cảnh xấu ta phải dựa trên năm khía cạnh: Majjhimapuggala, vipākacitta, dvāra ārammaṇakāla. Sau đây là thành phần minh giải:

  1. Majjhimapuggala hay majjhattapuggala: Ðây là yếu tố đầu tiên để phân định tính chất của cảnh sở tri là tốt hay xấu. Lẽ thường các bậc cao nhân không hề bị giao động trước ngoại cảnh dù nó có thể nào đi nữa, mà chỉ có người tầm thường hay hàng súc sanh mới có "tình cảm" thiên lệch trong cảnh sở tri: tốt thì thích, xấu thì ghét. Do đó, người hưởng cảnh được xem là một trong những chi tiết không thể thiếu trong việc phân định tính chất tốt xấu của cảnh.

  2. Vipākacitta: Trước cảnh tốt, tâm dị thục ghi nhận sở tri là xấu thì tâm quả bất thiện sẽ tiếp nhận nó. Ta không thể dựa vào đổng lực để phân định đâu là cảnh tốt đâu là cảnh xấu bởi vì như đã nói, có rất nhiều trường hợp tâm đổng lực không tương ứng với cảnh mà nó đang tri nhận. Như một người ngoại giáo trông thấy Ðức Phật, anh ta đón nhận hình ảnh khả kính đó bằng tâm quả thiện nhưng để thưởng thức hình ảnh đó thì anh ta phải dựa vào tâm quả dị thục mà phân định cảnh tốt xấu.

  3. Dvāra: Nếu chỉ lấy một cục phẩn áp vào da thịt ta thì ta có thể nói là khá êm ái (vừa âm ấm vừa mềm mềm!) nhưng nếu lấy mắt mà nhìn hay lấy mũi mà ngửi thì phải nói rằng cục phẩn nọ là đáng gớm. Tại sao vậy? Bởi vì mỗi môn có một chức năng khác nhau nên khi đối xúc với cùng một cảnh, mỗi môn biết cảnh theo một khía cạnh. Theo như trường hợp cục phẩn vừa nêu trên thì ta thấy rõ ràng là cục phẩn đã trở thành cảnh tốt cho thân môn nên lộ ý môn tiếp nối với tâm lộ thân môn đó cũng chỉ biết cảnh tốt. Nhưng vì cục phẩn đã trở thành cảnh xấu cho nhãn môn và tỷ môn nên do đó tâm lộ ý môn tiếp nối theo chúng cũng phải biết cảnh xấu. Hay đối với một cảnh hoa hồng, lấy mắt nhìn thì đó là cảnh tốt nhưng đem áp vào da thịt thì sẽ trở thành cảnh xấu cho thân môn. Vậy muốn phân định cảnh tốt xấu ta phải y cứ vào môn.

  4. Ārammaṇa: Các khía cạnh sai biệt của cảnh sở tri cũng là một cơ sở để khẳng định tính chất tốt xấu của nó như có những nhân vật nói về ngoại hình thì chao ôi là thiên kiều bá mị, giọng nói cứ như là oanh vàng lảnh lót nhưng trên khía cạnh tánh tình (cittanissaya) thì chua ngoa, đanh đá, trắc nết, rồi bên cạnh đó còn có những nhân vật nói về cảnh khí thì bất khả ý, nhưng trên cảnh sắc thì khả ái đến tuyệt hảo, hoặc trên cảnh vị thì hấp dẫn nhưng trên cảnh sắc thì thấy gớm. Do đó, ta phải lưu ý tới những khía cạnh tương phản, mâu thuẩn trong các sự vật để phân định cảnh tốt xấu.

  5. Kāla: Thời gian, nói chính xác hơn thì thời điểm, cũng là một cơ sở quan yếu để phân định cảnh tốt xấu. Ta hãy cứ tưởng tượng ra: Trong những ngày nắng hạ ngọn lữa là hung thần. Khi Ðông đến, nó là mẹ hiền cho tất cả. Giữa ban trưa, ngọn gió là người bạn nhưng trong những đêm lạnh, nó đáng ghét làm sao! - Vậy muốn nói rằng đó là cảnh tốt hay xấu, ta phải lưu ý đến khía cạnh: Nó hiện khởi đúng lúc hay không?

Puc: Có mấy lộ ý môn có đổng lực kiên cố? Cảnh của chúng là gì, CHÓT (vāra) của chúng?

Vis: Có tất cả 7 tâm ý môn kiên cố :
  1. Ādikammikajhānavīthi (lộ chứng nhập thiền định lần đầu).
  2. Jhānasamāpattivīthi (tâm lộ nhập định để hưởng thiền lạc).
  3. Pādakajhānavīthi (lộ nhập thiền để chuẩn bị hiện thông)
    Pādakajhāna là từ chuyên môn để gọi pañcamajjhāna.
  4. Abhiññāvīthi (tâm lộ trong lúc đang hóa hiện thần thông).
  5. Maggavīthi (tâm lộ diễn ra khi đắc thánh).
  6. Phalasamāpattivīthi (tâm lộ nhập định để thưởng thức Níp-bàn lạc).
  7. Nirodhasamāpattivihtī (tâm lộ nhập định để tạm thời giải thoát danh uẩn)

Cảnh của các tâm lộ này chỉ có hai trường hợp là cực rõ hoặc rõ. Và chúng chỉ thuộc chót đổng lực (javanavāra).


Puc: Hãy trưng dẫn quy trình sinh diễn của các tâm lộ sau đây:
  1. Ādikammikajhānavīthi: (Tâm lộ khởi chứng thiền định) của người độn căn.
  2. Jhānasamāpattivīthi: (Lộ nhập định)
  3. Sotāpattimaggavīthi: (Tâm lộ đắc sơ đạo) của người lợi căn.
  4. Lộ đắc đạo cao của người độn căn.
  5. Lộ nhập thiền quả của cả người độn căn lẫn lợi căn.

Vis:
  1. Ādikammikajhānavīthi của người độn căn: Khi hành giả tu thiền (bằng ba mươi đề mục) gần đến lúc đắc định thì một paññattipaṭibhāganimitta (Quang tướng chế định) nào đó trong 30 đề mục mà mình đã chọn sẽ khởi lên qua ý môn. Vào thời điểm này Rúng Ðộng, Dứt dòng xuất hiện rồi tiếp theo đó là khai ý môn khởi lên để đón nhận Quang tướng ấy. Sau khai ý môn sẽ là giai đoạn Upacārasamādhijavana gồm 4 đổng lực đại thiện hay Tố hợp trí, mỗi sát-na đổng lực ở đây đều có tên gọi riêng: Parikamma, upacāra, anuloma, gotrabhū. Tiếp theo đó, Tâm Thiền thiện hay Thiền tố sẽ khởi lên một sát-na để ghi nhận cảnh paññattibhāganimitta. Ta gọi sát-na Thiền này là appanāsamādhijavana. Sau đó, hữu phần chủ quan lại xuất hiện.

    Thế rồi kế tục giai đoạn hữu phần đó sẽ là 1 tâm lộ ý môn có đổng lực là đại thiện hay đại tố sẽ khởi lên để làm cái công việc phản khán chi thiền, ta gọi tâm lộ này là Paccavekkaṇavīthi. Sau khi tái hiện nhiều lần, một cách thích ứng, tâm lộ này cũng sẽ diệt đi.

  2. Jhānasamāpattivīthi: (Lộ nhập định)
    Thiền giả (jhānalābhī) muốn nhập định thì cứ chú nguyện rằng: "Mong rằng tâm ... (sơ thiền..., ngũ thiền) mà tôi đã chứng hãy khởi lên nơi tôi suốt thời gian ... (bao lâu tùy thích). "Rồi vị ấy tập trung tâm lực vào Patibhāganimitta của đề mục mà mình đã nhờ đó mà đắc thiền, và chú niệm: "tejo! tejo! hay āpo, paṭhavī ... hoặc sabbe sattā, pāṇā averā hontu!...".
    Trước khi tâm thiền xuất hiện, Rúng động, dứt dòng sẽ có mặt rồi khai ý môn, 3 hoặc 4 đổng lực Ðại thiện hay Ðại tố tương ưng trí (tùy người) khởi lên để đón nhận paṭibhāganimitta với tư cách là parikamma, upācāra, anuloma, gotrabhū (nếu là người lợi căn thì không có parikamma). Hết giai đoạn đó (lúc Gotrabhū vừa diệt xong) thì tâm thiền hiện khởi liên tục bất định số, cho đến khi nào hết thời hạn mà mình đã chú nguyện. Lúc tâm thiền cuối cùng vừa diệt xong hữu phần lại xen vào rồi lại nhường chỗ cho tâm lộ phản khán (paccavekkhaṇavīthi).

  3. Tâm lộ chứng đạt sơ đạo của người lợi căn:
    Trước khi một hành giả tu quán chúng đạt đạo quả, viên tri tam tướng một cách tận tường thì Rúng động, Dứt dòng khởi lên để chấm dứt dòng tâm chủ quan, kế đó tâm khai ý môn sẽ khởi lên để đón nhận thức tính danh sắc, rồi 1 trong 4 tâm đại thiện hợp trí sẽ khởi lên 3 lần (3 sát-na) với tư cách là cận hành, Thuận thứ, chuyển tộc (hay việt- chủng) Gotrabhū.
    Cận hành, thuận thứ thì biết cảnh danh sắc thực tính, còn Chuyển tộc thì biết cảnh Nípbàn, đồng thời đóng vai trò dẫn nhập (āvajjana) cho tâm Sơ đạo. Chức năng của Chuyển tộc là chấm dứt phàm chủng. Kế tục tâm chuyển tộc là 1 sát-na Sơ Ðạo, nó khởi lên để biết cảnh Níp-Bàn đồng thời cũng để đoạn trừ kiến và nghi. Sau sát-na Thánh Ðạo là 3 sát-na sơ quả xuất hiện để biết cảnh Níp-bàn. Tâm sơ quả diệt xong hữu phần xen vào rồi tiếp theo đó sẽ là 1 tâm lộ ý môn có đổng lực đại thiện hợp trí. Tâm lộ này có tên gọi là Paccavekkhaṇavīthi, nhiệm vụ của nó là quán xét Níp-bàn, Ðạo Quả, phiền não đã diệt và phiền não còn dư sót. Paccavekkhaṇavīthi sẽ tái hiện nhiều lần, một cách thích ứng với mỗi trường hợp. Ðây là quy trình chứng đạt sơ quả của người lợi căn.

  4. Tâm lộ chứng Ðạo cao của người độn căn:
    Trong thời điểm thánh đạo bậc cao sắp hiện khởi, trước hết sẽ có rúng động, Dứt dòng rồi tiếp theo đó, khai ý môn khởi lên để đón nhận cảnh danh sắc thực tính. Sau khi ý môn thì đến 4 đổng lực đại thiện hợp trí (1 trong 4 thôi nhưng sanh lên 4 bận). Mỗi sát-na đổng lực ở đây đều có tên gọi riêng: Parikamma, upacāra, anulomavodāna. Ba đổng lực đầu vẫn còn biết cảnh danh sắc nhưng vodanā thì lại biết cảnh Níp-bàn với tư cách là tâm dẫn nhập (āvajjana) của 3 tầng Thánh đạo cao cấp. Vodanā vừa diệt xong thì một trong 3 tâm thánh đạo bậc cao (Tư Ðà Hàm, A La Hán) sẽ khởi lên một sát-na để biết cảnh Níp-bàn và đoạn diệt phiền não ứng trừ. Kế tục sát-na Thánh đạo sẽ là 2 sát-na Thánh Quả chúng cũng biết cảnh Níp-Bàn. Hai sát-na Thánh Quả diệt xong, hữu phần xen vào rồi lại nhường chỗ cho tâm lộ phản khán (paccavekkhaṇāvīthi) khởi lên để quán xét Ðạo Quả, Níp-bàn, phiền não đã hết và hiện còn sót. Sau nhiều bận sinh diệt, (tái hiện nhiều lần), tâm lộ này mới chấm dứt.

  5. Phalasamāpattivīthi của người độn căn và lợi căn:
    Các vị Thánh nhân muốn an hưởng giải thoát lạc (vimuttisukha) thì chú nguyện rằng "Siêu Thế pháp nào mà ta đã chứng đạt rồi xin hãy khởi lên và cảnh hữu vi pháp (sankhatadhammārammaṇa) hãy vắng mặt suốt thời gian... (bao lâu tùy thích)". Rồi các vị mới chú quán vào 4 niệm xứ để ghi nhận danh sắc trong nội thân. Trước khi tâm thánh quả khởi lên, rúng động và dứt dòng luôn xuất hiện trước hết rồi tiếp theo đó, khai ý môn có mặt để ghi nhận thực tính danh sắc. Sau khai ý môn là 4 hay 3 sát-na đổng lực Ðại thiện ương ưng trí hoặc đại tố tương ưng trí. Ðối với người độn căn thì ở thời điểm này có tới 4 sát-na đổng lực nhưng đối với người lợi căn thì chỉ có 3 thôi. Các đổng lực này xuất hiện với tư cách là anuloma. Khi đổng lực cuối cùng vừa diệt xong thì tâm thánh quả khởi lên lập tức, và cứ thế cho đến hết thời hạn đã chú nguyện, tâm Thánh quả sinh rồi diệt, diệt rồi sinh liên tục, bất định số lượng. Khi tâm Thánh quả cuối cùng vừa diệt xong thì hữu phần xen vào rồi sau đó lộ phản khán (Siêu thế pháp cùng phiền não) khởi lên.

Puc: Có bao nhiêu jhānavīthi? Có bao nhiêu paccevekkhaṇavīthi bắt nguồn từ jhānavīthī?

Vis: Có tất cả 72 tâm lộ jhānavīthi: 36 lộ ādikammikajhāna-vīthi và 36 lộ samāpajjanavīthi.

Nói ādikammikajhānavīthi có 36 tâm lộ là lấy 9 thiền thiện (kusalajhāna) cộng với 9 thiền tố (kriyājhāna) rồi nhân với hai hạng lợi căn, độn căn.
Ðối với 36 lộ Samāpajjanavīthi cũng tính theo cách đó.

* Có tất cả 1536 tâm lộ phản khán kế tục tâm lộ chứng nhập thiền định (jhānavīthi). Sau đây là cách tính để có được con số ấy:Ta nói:
Tổng số của các tâm lộ phản khán kế tục các tâm lộ chứng nhập ngũ thiền là 640. Bây giờ ta hãy tổng kê lại:
a) Tâm lộ phản khán Sơ thiền có 320
b) Tâm lộ phản khán nhị thiền có 256
c) Tâm lộ phản khán tam thiền có 192
d) Tâm lộ phản khán tứ thiền có 128
e) Tâm lộ phản khán ngũ thiền có 640
Tổng cộng 1. 536

 


← 14 15 16 →

Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika

Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de