Puc: Thế nào là hộ kiếp vừa qua (
atītabhavanga) và hộ kiếp rúng động (
bhavangacalana)? Tâm hữu phần sanh lên trong lúc cảnh ngũ đã có nhưng chưa đối xúc với ngũ môn, tên gọi là gì? Lúc cảnh ngũ đã đối xúc với ngũ môn rồi, tâm hữu phần ấy mang tên gì?
Vis: Atītabhavanga là tâm hữu phần trôi qua trong giai đoạn cảnh ngũ đã có nhưng chưa đối xúc với ngũ môn.
Bhavangacalana là tâm hữu phần bị
dao động (ở đây không muốn xài tiếng giao động) bởi hấp lực ảnh hưởng của cảnh ngũ mà đã đối xúc với ngũ môn. Tâm hữu phần sinh lên trong giai đoạn cảnh ngũ đã có nhưng chưa đối xúc với ngũ môn, được gọi là
atītabhavanga. Khi cảnh ngũ đã đối xúc ngũ môn rồi thì tâm hữu phần ấy được gọi là
Bhavangacalana. Bhavangupaccheda là "cái cắt đứt dòng hữu phần". Sở dĩ gọi tâm hữu phần đó bằng cái tên như vậy là vì nó là tâm hữu phần rúng động (
Bhavangacalana) thứ hai, đồng thời cũng là lần cuối cùng trong một tâm lộ.
Puc: Có mấy tâm đóng vai trò vừa qua, rúng động, dứt dòng trong một tâm lộ ngũ môn và ý môn?
Vis: Trong tâm lộ ngũ môn, có 15 tâm đóng vai trò của 3 tâm hữu phần vừa kể, đó là: 2 quan sát xả thọ (
Upekkha santir) 8 đại quả và 5 tâm quả sắc giới. Trước khi một tâm lộ ý môn diễn tiến, có 15 tâm đóng vai trò
atītabhavanga: quan sát xả thọ, 8 đại quả và 5 tâm quả sắc giới.
Ðối với tâm lộ ý môn không có hữu phần vừa qua thì trước khi bắt đầu tâm lộ sẽ có 19 thứ tâm làm nhiệm vụ dẫn nhập: 2 quan sát xả, 8 đại quả và 9 quả đáo đại.
Puc: Có mấy tâm chủ quan và bao nhiêu cảnh của tâm chủ quan (hộ kiếp)?
Vis: Tâm chủ quan gồm có 19 tâm hữu phần; cảnh của nó là một trong 3 cảnh sau đây:
- Kammārammaṇa,
- Kammanimittārammaṇa và
- Gatinimittārammaṇa.
Nghiệp Tượng (kammāramaṇa): Là những hình ảnh trực tiếp về một công việc nào đó trong quá khứ như thầy giáo thấy mình đang dạy học.
Nghiệp Tướng (kammanimitta): Một hình ảnh gián tiếp mang tính gợi ý về một nghiệp cũ như thầy giáo nhìn thấy cổng trường, đồng phục học sinh hay phấn trắng, bảng đen.
Thú Tướng (gatinimitta): Người sắp sanh địa ngục có thể thấy lửa cháy hoặc sắp sanh về trời có thể nhìn thấy những lâu đài lộng lẫy, rực rỡ.
Còn tâm khách quan (tân tâm) là những tâm được kể trong quy trình diễn hoạt (
vīthicitta). Cảnh của tâm khách quan hay tân tâm chính là sáu cảnh ngoài ra 3 cảnh của tâm chủ quan.
Puc: Làm sao biết rằng cảnh của tâm lộ ngũ môn gồm cảnh rất lớn, lớn, nhỏ, rất nhỏ?
Vis: Ðể nắm rõ điều đó, ta hãy y cứ vào số lượng hữu phần vừa qua trong mỗi tâm lộ. Tâm lộ nào có một sát-na hữu phần vừa qua, tâm lộ đó được gọi là atimahantārammaṇavīthi (lộ tâm cảnh rất lớn). Tâm lộ nào có từ 2 - 3 Hữu Phần vừa qua, ta gọi là lộ tâm cảnh lớn. Tâm lộ nào có từ 4 - 9 Hữu Phần vừa qua, ta gọi đó là lộ tâm cảnh nhỏ. Tâm lộ nào có từ 10 - 16 sát-na Hữu Phần vừa qua, ta gọi đó là lộ tâm cảnh rất nhỏ. Thế thôi.
Puc: Có mấy yếu tố làm môi sinh cho tâm thập di và hữu phần khách (agantukabhavanga)?
Vis: Tâm thập di cảnh lớn, cảnh rất lớn muốn khởi lên phải do 3 yếu tố:
- Ðổng lực trong tâm lộ đó phải là đổng lực dục giới (Kāmajavana).
- Người dục giới (Kāmapuggala).
- Tâm lộ đó phải bắt cảnh dục (Kāmārammaṇa).
Tuy nhiên, dầu có đủ ba yếu tố này nhưng lại bị trở lực nào đó ngăn ngại thì tâm thập di vẫn không thể khởi lên.
Nói về tâm hữu phần khách, phải do ba yếu tố sau đây mới có thể xuất hiện:
Ðương sự phải là người tục sinh bằng 1 trong 4 tâm đại quả thọ hỷ.
Ðổng lực trong tâm lộ phải là tâm sân.
Cảnh của tâm lộ phải là cảnh cực tốt nếu đó là cảnh rất lớn hay rất rõ.
Còn nếu chỉ là cảnh lớn hay cảnh rõ thì bất luận là cảnh cực tốt (tiṭṭhārammaṇa) hoặc cảnh khá tốt (iṭṭhamajjhattārammaṇa) hoặc cảnh bất toại (aniṭṭhārammaṇa), cũng đều có thể giúp cho hữu phần khách khởi lên.
Puc: Ngũ môn hội đủ bao nhiêu yếu tố mới có thể bắt được cảnh ngũ?
Vis:
- Nhãn môn muốn bắt được cảnh sắc phải có đủ bốn yếu tố:- Cakkhupasāda: Thần kinh nhãn tốt.
- Rūparammaṇa: phải có cảnh sắc cụ thể trước mắt.
- āloka: Phải có đủ ánh sáng.
- Manasikāra: Phải có sự chú ý.
- Nhĩ môn:- Sotapasāda: Thần kinh nhĩ tốt.
- Saddārammaṇa: Phải có cảnh thinh rõ ràng
- ākāsa: không bị vật cách âm.
- Manasikāra: Phải có sự chú ý.
- Tỷ môn:- Ghānapasāda: Thần kinh Tỷ tốt.
- Gandhārammaṇa: Phải có cảnh khí
- Vāyo : Phải có dịch vị
- Manasikāra: Phải có sự chú ý.
- Thiệt môn:- Jivhāpasāda: Thần kinh thiệt tốt.
- Rasārammaṇa: Phải có cảnh vị
- āpo: Sự chuyển động của không khí
- Manasikāra: Phải có sự chú ý.
- Thân môn:- Kāyapasāda: Thần kinh thân tốt.
- Phoṭṭhabbārammaṇa: Phải có cảnh xúc (nóng, lạnh, mềm, cứng, êm, xốc...).
- Thadda: Ðịa đại có bản tướng rõ rệt
- Manasikāra: Phải có sự chú ý.
Cảnh ngũ nào đầy đủ bốn yếu tố tương ứng vừa kể trên thì được gọi là cảnh rất lớn. Nếu khiếm khuyết một yếu tố nào trong bốn thì gọi là cảnh lớn. (Khiếm khuyết ở đây chỉ là "yếu", không có nghĩa là không có). Nếu khiếm khuyết nhiều thì gọi là cảnh nhỏ. Nếu quá thiếu tức cả bốn yếu tố đều trong tình trạng quá yếu kém thì gọi là cảnh rất nhỏ.
Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.© www.tudieu.de