Puc: Lộ ngũ môn cảnh cực đại chót đổng lực không hữu phần khách có khởi lên đối với người cõi dục giới không? Hãy giải thích.
Vis:
Lộ này có thể khởi lên nơi người dục giới (
Kāmapuggala) qua các hạng người khổ, người lạc vô nhân, nhân loại và những chư thiên tái tục bằng đại quả xả thọ trong trường hợp họ bắt cảnh ngũ cực tốt (
atiṭṭhārammaṇa) nhưng lại có sự bất bình hay sợ hãi. Lúc đó, nếu có na cảnh thì phải là na cảnh hỷ thọ (
somanassatadālambana). Nhưng vì na cảnh hỷ thọ không thể nối theo sau đổng lực sân được nên ngay kế sau đổng lực sân, tâm chủ quan (
mūlabhavanga) sẽ sinh khởi nối tiếp, mà không cần tới hộ kiếp khách.
Puc: Lộ ngũ môn cảnh cực đại và lộ ngũ môn cảnh lớn có hữu phần khách có thể khởi lên nơi hạng người nào trong cõi dục giới?
Vis: Hai lộ này có thể khởi lên ở năm hạng người Dục giới: Người nhị nhân , tam nhân, bậc Dự Lưu, Nhất lai mà tái tục bằng tâm hỷ thọ và những bậc chứng thiền (
jhānalābhī) mà đã bị hoại thiền. Với họ thì 2 lộ Hữu Phần khách này mới có thể khởi lên.
Puc: Lộ nhãn môn cảnh nhỏ có mấy trường hợp (
pabheda)? Chúng thuộc chót gì? Và có thể khởi lên ở người nào, cõi nào?
Vis:
Lộ này có 6 trường hợp có 4 Hữu Phần vừa qua, có 5 Hữu Phần vừa qua, có 6 Hữu Phần vừa qua, có 7 Hữu Phần vừa qua, có 8 Hữu Phần vừa qua, có 9 Hữu Phần vừa qua.
Cả 6 trường hợp đều thuộc chót đoán định (
voṭṭhapana). Chúng có thể sinh khởi ở 8 hạng người trong cõi ngũ uẩn.
Puc: Lộ ngũ môn cảnh cực tiểu mấy trường hợp? Tại sao loại tâm lộ này thuộc
Moghavāra (trước sau gì cũng không có tâm khách quan) nhưng vẫn được xếp vào hệ thống tâm lộ và có tên gọi hẳn hoi (
atiparittārammaṇavīthi)?
Vis:
Loại tâm lộ này có đến 7 trường hợp: có 10 vừa qua, có 11 vừa qua, có 12 vừa qua, có 13 vừa qua, có 14 vừa qua, có 15 vừa qua, có 16 vừa qua. Sau vừa qua thì sẽ là 2 - 3 sát-na rúng động. Rồi hữu phần cơ bản (
mūlabhavanga) lại sinh khởi. Sở dĩ vẫn được gọi là một tâm lộ dù thuộc
moghavāra vì lý do là ở đây tâm hữu phần cũng bị dao động khi đối xúc với cảnh ngũ, không như hữu phần cơ bản.
Puc: Hãy trình bày chi tiết về các tâm lộ sau đây thuộc lộ nhãn môn:
1. Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót na cảnh. (
tadālambanavarātimahantārammaṇavīthi)
2. Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót đổng lực có hữu phần khách.
3. Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót đổng lực không có hữu phần khách.
4. Lộ
Paṭhamamahantārammaṇavīthi có hữu phần khách.
5. Lộ
Paṭhamamahantārammaṇavīthi không có hữu phần khách
Vis:
1.
Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót na cảnh diễn hoạt như sau:
Khi cảnh sắc vừa xuất hiện thì tâm hữu phần vừa qua - lấy nghiệp, nghiệp tượng, thú tượng làm cảnh - sẽ khởi lên một sát-na. Khi cảnh sắc đã trực tiếp đối xúc với thần kinh nhãn thì tâm hữu phần vừa qua lại chuyển sang trạng thái dao động, suốt 2 sát-na liên tục. Lúc này chúng có tên gọi là hữu phần rúng động rồi hữu phần dứt dòng. Sau đó các tâm khách quan mới lần lượt hiện khởi theo thứ lớp:
- Tâm khai ngũ môn có nhiệm vụ thẩm sát (vicāranā) cảnh mới, xóa cảnh cũ, và cắt ngang dòng hữu phần. Tâm này chỉ khởi lên 1 sát-na thôi.
- Tâm nhãn thức: có nhiệm vụ thuần túy là thấy cảnh. Cũng diệt mất sau 1 sát-na.
- Tâm tiếp thâu: có nhiệm vụ đón bắt lấy cảnh, cũng sống 1 sát-na.
- Tâm suy đạc: có nhiệm vụ trắc đạc đó là cảnh khả ý (itthārammaṇa), hay khả ố (aniṭṭhārammana)
- Tâm đoán định : có nhiệm vụ định trị, xác lập thể tính tốt xấu của cảnh.
- Tâm đổng lực (1 trong 29 Kāmajavana): Có nhiệm vụ thưởng thức, tiêu thụ cảnh - tái sinh tái diệt liên tục 7 lần.
- Tâm na cảnh (1 trong 11): Có nhiệm vụ đón nhận cảnh kế thừa từ đổng lực - sau 2 sát-na thì diệt mất.
Cảnh sắc ở đây sẽ cùng diệt với tâm na cảnh thứ hai, vì đã đủ túc số tuổi thọ là 17 sát-na đại.
2.
Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót đổng lực có hữu phần khách diễn biến như sau:
Ðối với người tái tục bằng tâm hỷ thọ, khi thấy cảnh cực tốt mà lại khởi lên tâm trạng bất bình, chán ghét, sợ hãi thì lúc ấy tâm lộ ngũ môn của họ đã diễn ra theo quy trình này:
- Trước hết chính tâm tái tục hỷ thọ của họ đóng vai trò hữu phần vừa qua, hữu phần rúng động, hữu phần dứt dòng - những tâm bắt cảnh Nghiệp, nghiệp tượng , thú tượng trong lúc cận tử của đời trước - sẽ khởi lên rồi diệt.
- Sau đó tâm khai ngũ môn, nhãn thức quả thiện, tiếp thâu quả thiện, suy đạc, hỷ thọ rồi tâm đoán định sẽ lần lượt khởi lên và diệt mất, nối đuôi nhau, tiếp theo sẽ là 7 sát-na đổng lực sân.
- Kế sau giai đoạn đổng lực là tâm quan sát xả thiện hoặc một tâm đại quả xả nào đó khởi lên để đóng vai trò hữu phần khách thế chỗ của na cảnh.
- Sau chập hữu phần khách, hữu phần cơ bản (Mūl. Bhanga) sẽ khởi lên nhiều bận, cảnh của nó cũng giống như của hữu phần đầu tiên.
- Và cứ thế, lộ này sanh diệt cả trăm cả ngān lần, mãi cho đến khi nào cảnh cực tốt ngoại giới không còn nữa thì thôi.
3.
Lộ nhãn môn cảnh cực đại chót đổng lực không có hữu phần khách:
Ðối với người tái tục bằng tâm xả thọ, khi thấy một cảnh sắc cực tốt mà lại khởi tâm bất bình hay sợ hãi thì tâm lộ lúc đó diễn tiến như sau:
- Trước hết, tâm tái tục xả thọ của họ thì trở thành hữu phần vừa qua, hữu phần rúng động, hữu phần dứt dòng - chúng biết một trong 3 cảnh chủ quan của thời cận tử đời trước - Rồi kế đó sẽ là khai ngũ môn, nhãn thức quả thiện, tiếp thâu thiện quan sát (suy đạc) thiện, đoán định sau đoán định là 7 sát-na đổng lực sân.
- Hết chập đổng lực thì tới tâm tái tục xả thọ của họ. Chúng khởi lên nhiều bận, dĩ nhiên một cách tương ứng. Lộ này cứ vậy mà sanh đi sanh lại cả trăm cả ngān lần cho đến lúc nào cảnh cực tốt kia còn hiện hữu.
- Ðối với các phạm Thiên Sắc giới khi thấy cảnh sắc cực tốt hay bất toại (aniṭṭhārammana) thì sau một sát-na hữu phần, cảnh sắc sẽ hiện rõ đối với thần kinh nhãn. Sau đó, một đổng lực nào đó ngoài ra sân sẽ khởi lên. Hết chập đổng lực, tâm tái tục sắc giới (có cảnh là Paññattikammanimittadhammārammaṇa) sẽ khởi lên trong vai trò hữu phần. Tâm lộ này cũng không có hữu phần khách.
4. Lộ
Paṭhamamahantārammaṇavīthi có hữu phần khách:
Ðối với người tái tục bằng tâm hỷ thọ, khi thấy cảnh tốt (iṭṭhārammaṇa) hay bất toại (aniṭṭhārammaṇa) mà có tâm bất bình hoặc sợ hãi thì tâm lộ lúc đó diễn tiến như sau:
- Trước hết là 2 - 3 hữu phần vừa qua, giai đoạn này do tâm tái tục thực hiện;
- Tiếp theo là hữu phần rúng động, hữu phần dứt dòng - có cảnh là Kammārammaṇa, kammānimittārammaṇa và gatinimittārammana (1 trong 3) mà đổng lực cận tử (maraṇāsannajavana) đời trước đã bắt.
- Sau đó là khai ngũ môn, tiếp thâu, suy đạc, đoán định, đổng lực (7 sát-na).
- Sau chập đổng lực là một tâm hữu phần xả thọ nào đó chẳng hạn như suy đạc xả Thiện hay suy đạc xả bất thiện hoặc đại quả xả khởi lên để làm hữu phần khách là hữu phần căn bản của hỷ thọ - cảnh của nó giống như của tâm hữu phần đầu.
- Hữu phần căn bản này khởi lên nhiều lần - một cách tương ứng - và lộ tâm này lại cứ khởi lên cả trăm cả ngàn bận cho đến khi nào đối tượng ngoại giới kia không còn nữa thì thôi.
5. Lộ
Paṭhamamahantārammaṇavīthi không có hữu phần khách:
Ðối với người tái tục bằng tâm xả thọ, khi gặp cảnh sắc tốt hay bất mỹ bất khả ý mà tâm có sự bất bình, sợ hãi thì dòng tâm thức diễn ra như sau:
- Trước hết tâm tái tục xả thọ sẽ khởi lên trong vai trò hữu phần vừa qua (2 sát-na), hữu phần rúng động, hữu phần dứt dòng - những tâm có cảnh là một trong ba loại sở tri kammāra, kammanimittāra, gatinimittāra mà đổng lực cận tử đời trước đã bắt.
- Sau đó là khai ngũ môn nhãn thức, tiếp thâu, suy đạc, đoán định, đổng lực sân (7 sát-na liên tục).
- Kế đó tâm tái tục xả thọ sẽ khởi lên nhiều bận trong vai trò hữu phần. Hết một đoạn dài hữu phần xen kẽ thích hợp, tâm lộ này lại tái khởi rồi diệt mất - cứ thế cả trăm cả ngān lần cho tới khi nào đối tượng ngoại giới kia không còn nữa thì thôi.
- Hay đối với người tái tục bằng tâm hỷ thọ, khi mắt thấy cảnh tốt hay không tốt cũng có thể diễn ra tâm lộ sau đây: Qua 2 - 3 hữu phần, cảnh sắc hiện rõ nơi thần kinh nhãn ..., và đổng lực ở đây là một tâm nào đó ngoài ra sân, lộ này cũng không có hữu phần khách. Sau chập đổng lực thì tới hữu phần căn bản ngay.
Puc: Trong các tâm lộ ngũ môn có bao nhiêu thứ tâm? Tính như thế nào để biết rằng kể hẹp thì được 75 lộ ngũ môn kể rộng thì có đến 100 lộ ngũ môn?
Vis: Trong tất cả tâm lộ ngũ môn chỉ có 54 tâm dục giới mà thôi.
Cách tính hẹp để ra 75 lộ ngũ môn là lấy 1 (lộ) cảnh rất lớn, 2 (lộ) cảnh lớn, 6 (lộ) cảnh nhỏ 6 (lộ) cảnh rất nhỏ cộng với nhau rồi nhân với 5 môn.
(1 + 2 + 6 + 6) x 5 = 75
Cách tính rộng để có được 100 lộ ngũ môn là lấy 3 cảnh rất lớn (cực đại), 4 cảnh lớn, 6 cảnh nhỏ, 7 cảnh rất nhỏ cộng với nhau rồi nhân với 5 môn.
(3 + 4 + 6 + 7) x 5 = 100
Puc: Hãy dịch bài kệ sau đây:
Vithicittāni satteva
Cittuppādā catudassa
Catupaññāsa vitthāra
Pañcadvāre yathārahaṃ.
Vis:
"Trong mỗi tâm lộ chỉ có 7 thứ tâm khách quan
(1 khán ngũ môn, 1 tiếp thâu, 1 suy đạc, 1 đoán định, 1 đổng lực, 1 na cảnh),
nói về sát-na sinh khởi thì trong mỗi tâm lộ có được 14 cái tâm khách quan
(hay 14 sát-na tâm khách quan), 1 sát-na khán ngũ môn, 1 sát-na môn thức, 1 sát-na tiếp thâu, 1 sát-na suy đạc, 1 sát-na đoán định, 7 sát-na đổng lực và 2 sát-na na cảnh.
Nếu nói tổng số lượng thì trong một tâm lộ ngũ môn có tới 54 thứ tâm" (54 tâm dục giới).
Vithicittāni: tâm khách quan
satteva: 7
Cittuppādā: tâm sanh
catudassa: 14
Catupaññāsa: 54
vitthāra: nói rộng
Pañcadvāre: ngũ môn
yathārahaṃ: đúng đắn
Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.© www.tudieu.de