www.tudieu.de

Biện Giải Tâm Pháp - Ghi chú

← 8 Trang Đầu
[ 9 ]
10 →


PUC: Hãy kể rõ những tâm lộ diễn ra trong lúc:
- Thấy người khác vẫy tay, ta biết họ gọi mình.
- Nghe người khác kêu tên, ta biết họ gọi mình.

VIS: Trong trường hợp một, có 6 tâm lộ sau đây hiện khởi:

  1. Cakkhudvāravithī khởi lên để thấy được cái vẫy tay, chỉ thấy để thấy thôi, chưa có vấn đề “quan niệm” ở đây.
  2. Atītaggahaṇavithī khởi lên kế tục lộ nhãn môn để nắm bắt cảnh sắc quá khứ. Điều nên nhớ là cả lộ nhãn môn và atītaggahaṇa cứ nối đuôi nhau luôn diễn tiến bằng mấy mươi bận trong giai đoạn này.
  3. Samūhaggahaṇavithī sanh khởi tiếp theo sau lộ atītaggahaṇavithī để thu vén cảnh sắc quá khứ kế thừa từ 2 tâm lộ trước. Tâm lộ này cũng được lập đi lập lại hàng chục lần, ít nhiều tùy theo cảnh lớn hoặc nhỏ.
  4. Atthaggahaṇavithī luôn noi dấu lộ samūhaggahaṇavithī mà khởi lên, để biết rằng đối tượng kia đang vẫy tay.
  5. Kāyaviññattigahaṇavithī khởi lên nối theo sau lộ atthaggahaṇa để biết mục đích của cái vẫy tay, ý nghĩa của cái vẫy tay: gọi đến.
  6. Adhippāyaggahaṇavithī sanh khởi kế tục tâm lộ kāyaviññattigahaṇa để giao cảm ý muốn của đối tượng (nhân vật đối tượng).

Trong 6 tâm lộ vừa kể, chỉ có 3 tâm lộ đầu là có thể có na cảnh, còn ba tâm lộ sau thì không thể có na cảnh.
Cakkhudvāravithī Lộ nhãn môn (cakkhu: mắt; dvāra: môn; vithī: lộ)
Atītaggahaṇavithī Lộ nối góp cảnh vừa qua (atīta: vừa qua; gahaṇa: bắt lấy)
Samūhaggahaṇavithī Lộ nối sắp cảnh để lại (samūha: gom họp)
Atthaggahaṇavithī Lộ nối biết cảnh hình thức (attha: ý nghĩa)
Kāyaviññattigahaṇavithī Lộ nối biết thân biểu tri (kāyaviññatti: thân biểu tri)
Adhippāyaggahaṇavithī Lộ nối biết nghĩa lý (adhippāya: chú ý, cố ý)


Trong trường hợp hai, có 7 tâm lộ diễn tiến:

  1. Sotadvāravithī chỉ để nghe một cách đơn thuần, chưa có ý niệm gì về nāmapaññatti và atthapaññatti.
  2. Atītaggahaṇavithī kế tục lộ trước để nắm bắt cảnh thinh quá khứ. Cả hai tâm lộ vừa kể đều phải nối nhau lập đi lập lại hàng chục bận.
  3. Samūhaggahaṇavithī kế tục lộ trước để thu vén những âm hưởng “di truyền” kế thừa từ 2 lộ trước. Tâm lộ này cũng sinh diệt tái hiện hàng chục bận, ít nhiều tùy theo cảnh thinh có âm hưởng “di truyền” dài ngắn.
  4. Nāmaggahaṇavithī kế tục lộ trước sanh lên để định danh cảnh thinh theo nāmapaññatti.
  5. Atthaggahaṇavithī khởi lên sau nāmaggahaṇavithī để quan niệm cảnh thinh theo khía cạnh atthapaññatti.
  6. Vacīviññattigahaṇavithī kế tục lộ trước khởi lên để ý thức được khía cạnh phương tiện thông cảm tiếng gọi.
  7. Adhippāyaggahaṇavithī nối đuôi lộ trước khởi lên để tiếp nhận ý muốn của nhân vật, đối tượng, ý nghĩa hay mục đích của tiếng gọi.

Trong 7 tâm lộ này, 3 cái trước có thể có na cảnh, 4 cái còn lại không thể có na cảnh.
Sotavāravithī Lộ nhĩ môn (sota: tai)
Nāmaggahaṇavithī Lộ nối biết danh tánh (nāma: tên)
Vacīviññattigahaṇavithī Lộ nối biết khẩu biểu tri (vacīviññatti: khẩu biểu tri)

 


← 8 9 10 →

Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika

Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de