www.tudieu.de

Biện Giải Tâm Pháp - Ghi chú

← 11 Trang Đầu 13 →


Đề tài 12

“Thân kiến có mấy nghĩa? Và cách nào đoạn trừ thân kiến, mỗi thứ bằng cách nào?”

✳ Thân kiến có 3 loại là:

  1. Thấy ta do ái.
  2. Thấy ta do ngã mạn.
  3. Thấy ta do kiến chấp.

Thấy ta do kiến chấp như là: Ta ngồi, ta nằm, ta đi... thân kiến loại này đã bị vị Tu Đà Hườn sát tuyệt. Còn ta thấy do ái, ta thấy do ngã mạn thì từ bậc A Na Hàm trở xuống vẫn còn, chỉ bậc A La Hán mới sát tuyệt.

✳ Còn câu nói mà Đức Phật thường dùng là: “Ta là bậc Ứng Cúng Như Lai...” hay Đức Phật thường dạy chư Tỳ kheo rằng: “Ta là nơi nương của ta...”. Vậy cái ta ấy có tính chất như thế nào?

✳ Câu nói “Ta là Như Lai” đó là pháp chế định, Ngài nói cho mọi người dễ hiểu, nếu không nói rằng: “Như Lai”, “ta” thì sẽ phải nói như thế nào? Do vậy đây chính là ngôn ngữ để tỏ bày để nói với nhau cũng phải y cứ cho nhau biết. Ngài không còn cái ta do ái hay do ngã mạn.

✳ Xin Ngài giải lại cho biết cách trừ: Ta trong ý nghĩa của ái hay của ngã mạn hay của kiến chấp?

✳ Chỉ có một cách là: Cho thấy ta chỉ là danh và sắc thôi. Câu giải thích này trừ kiến nào?

✳ Trừ thân kiến.

✳ Còn tà kiến thì chưa trừ được phải không?

✳ Tà kiến loại nào?

✳ Tà kiến mà ngăn chặn đường trời và đường Níp Bàn.

✳ Kiến chấp này không ngăn chặn đường trời cùng đường Níp Bàn, vì người có thân kiến, người ấy vẫn có thể chứng ngộ Níp Bàn. Khi người ấy rời bỏ thân kiến được rồi, người ấy chứng đạt dự lưu quả.

✳ Vậy thì thân kiến và tà kiến là một hay khác nhau?

✳ Thân kiến cũng thuộc về tà kiến, tà kiến là tên chung để chỉ thấy những sự thấy sai. Đoạn kiến với vô nhân thì bậc Tu Đà Hườn đã sát tuyệt, thường kiến còn phàm nhân có thể trừ được.

✳ Trừ được vào lúc nào?

✳ Trừ được vào lúc thấy hiện rõ 3 tướng.

✳ Biết rằng khi chết rồi thì phải tái sanh hoặc là tin vào nghiệp quả như vậy có gọi là trừ được tà kiến được chưa?

✳ Trừ được tà kiến trong phần nghiệp, người tin như vậy gọi là trừ được tà kiến do nhờ học, không phải do sự hành. Còn thường kiến được trừ do sự hành là vì vị ấy phải thấy rõ tam tướng, khi ấy mới trừ tuyệt.

✳ Phải ghi nhận danh sắc liên tiếp… rồi mới thấy 3 tướng, phải vậy chăng?

✳ Phải rồi! Không có cách nào diệt trừ khác được, ngoài sự ghi nhận danh sắc ra, không có con đường nào khác, đó là con đường độc nhất. Đức Phật đã dạy rằng: “Ekāyana magga”, phải tránh xa hai cực đoan là: lợi dưỡng và khổ hạnh.

✳ Nghĩa là cả hai con đường ấy không trừ được thân kiến?

✳ Đúng rồi vì sự hành ấy là do hiểu lầm không đúng với nhân quả khi Bồ Tát chứng ngộ thành Chánh Đẳng Chánh Giác Phật rồi. Ngài thuyết giảng con đường Trung Đạo để sát trừ tuyệt si. Vì rằng: lợi dưỡng chỉ đưa đến áp chế sân, còn khổ hạnh chỉ đưa đến tạm trừ tham mà thôi. Còn Trung Đạo thì trừ tuyệt được si là căn gốc của tham và sân.

✳ Trong sự sát trừ si ấy, pháp nào là phận sự trừ si?

✳ Phải có chánh niệm tỉnh giác si mới không sanh, vì vô minh ngủ ngầm trong bản tánh… phải hành niệm xứ trước rồi mới thấy rằng: Danh sắc là khổ, là độc hại, không phải là tự ngã… đây là phần trí. Chánh niệm và tỉnh giác phải song hành, chỉ riêng chánh niệm hay tỉnh giác không thôi cũng không được.

✳ Nếu sẽ hành thiền ngày mai, thì gọi là bắt đầu trừ si được chưa?

✳ Chưa được, giống như người sẽ ăn, nhưng chưa ăn được, kết quả của sự ăn là sự no từ đâu mà có được. Phải hành niệm xứ rồi mới trừ được si. Nhanh chóng thì 7 ngày, trung bình thì 7 tháng, nhưng không quá 7 năm. Nếu hành giả hành liên tục như thế, nhất định sẽ đạt được Đạo, Quả, một bậc Thánh nào đó chắc chắn như vậy.

✳ Cũng là hành nhưng phải hành pháp nào đây?

✳ Có 44 đề mục trong niệm xứ, muốn hành đề mục nào cũng được, nhưng phải biết rõ đề mục ấy, hành cách nào và tác ý ra sao, không để lẫn lộn sang qua đề mục khác như vậy là không phải ghi nhận thân trong thọ hay ghi nhận thọ trong tâm…

✳ Xin giảng giải cách hành thiền quán nào để hành và thích hợp với bản tính của người thời nay.

✳ Đề mục tứ oai nghi trong phần thân niệm xứ là thích hợp nhất cho bản tính của người thời nay. Còn riêng về đề mục tín giác là tiểu oai nghi nhiều hơn, như co vào, duỗi ra… phải là người hành Minh sát rồi, đã thuần thục hiểu rõ về việc ghi nhận tứ oai nghi rồi, đã thuần thục khi thực hành mới có kết quả tốt.

✳ Trong tứ oai nghi như khi đi thì ghi nhận theo động tác diễn hành như vậy là niệm rồi thì chỗ nào là tỉnh giác?

✳ Lúc đang đi ấy biết động tác diễn hành là niệm, biết rằng cử động chuyển đi ấy là sắc, đi không phải là ta đi, đó chính là tỉnh giác, biết rằng ở đây chỉ có danh và sắc mà thôi.

✳ Trong lúc đi có sự trừ tà kiến chỗ nào?

✳ Chưa trừ được, nhưng tà kiến không thể sanh khởi được. Ở đây câu nói trừ không có ý nghĩa là sát tuyệt. Trừ có 3 cách là tạm thời, xuất ly trừ (áp chế) và sát tuyệt trừ. Câu nói trừ ở đây là không có sanh khởi nghĩa là tham, ưu không thể sanh khởi trong lúc ấy được gọi là tạm trừ hay xuất ly trừ, còn sát tuyệt trừ thì tùy theo khả năng của đạo mà hành giả chứng đạt.

✳ Như vậy thì: phiền não sanh khởi lúc nào cũng được phải chăng?

✳ Phiền não sanh khởi được khi không có chánh niệm tỉnh giác.

✳ Làm thế nào mới không có phiền não sanh lên được?

✳ Phải làm cho có chánh niệm tỉnh giác liên tục, dù làm gì cũng phải có cảnh hiện tại luôn luôn vì vậy nếu không phải là việc cần thiết thì không nên làm, nếu làm không khéo thì sẽ mất đi cảnh hiện tại khi chánh niệm tỉnh giác yếu thì không vượt khỏi phiền não và sẽ bắt cảnh hiện tại không được. Do vậy, hành giả cần phải biết việc gì cần phải làm nếu tác ý không đúng thì không còn là hành Minh sát mà là hành với phiền não sanh lên trong việc làm ấy. Hành giả phải luôn luôn không rời mục đích diệt trừ phiền não, phải như vậy mới đạt được kết quả.

✳ Lúc giặt y, áo nên tác ý như thế nào?

✳ Phải tác ý rằng: vì sao phải giặt y, áo vì nó dơ ư? Nhưng có thật là nó dơ hay không? Mà nói rằng nó dơ, cái gì làm cho nó dơ? Ban sơ các vật này sạch sẽ, khi thân này chạm vào chẳng bao lâu những y áo này dính đầy mồ hôi, đất nhớp… từ nơi thân. Sự thật thì chính thân này dơ… Khi ấy nên quán xét về những thể trược trong thân. Trong lúc ghi nhận oai nghi ấy, nếu tác ý đúng pháp rồi thì cảm giác ta nói không sanh khởi, hoặc là ta bị khổ… cũng không hiện khởi. Sự cảm giác là ta sẽ không sanh lên. Nếu xét thấy rằng: nằm để diệt trừ sự khổ… ngồi để diệt trừ sự khổ… thì ái sẽ không thể xâm nhập và cảm giác khi đổi oai nghi ấy được không phải nằm vì muốn nằm, không phải ngồi vì muốn ngồi, nếu muốn nằm hay muốn ngồi thì sẽ trở thành vật thực cho phiền não ái, nằm để cho an lạc đó là lạc ảo tưởng. Hành giả phải tác ý cho đúng với sự thật rằng: Muốn nằm thì lạc ảo tưởng sẽ xâm nhập vào sắc nằm, vì sự hiểu rằng: nằm là sự an lạc, đó là sự hiểu sai. Nếu nằm là an lạc chắc chắn thì có phải là ta không cần phải ngồi dậy chăng? Không được, vào một lúc nào đó sắc nằm sẽ khổ và ta sẽ lại phải đổi oai nghi, phải ngồi dậy như vậy thì: sự thật nằm không phải là lạc vĩnh viễn… Đức Phật đã dạy rằng: thế gian này không có chi là lạc, tất cả đều là khổ. Chỉ có khổ sanh lên, chỉ có khổ đang tồn tại, chỉ có Níp Bàn là lạc thật sự mà thôi.

✳ Nhưng vẫn có thọ lạc chứ nào thọ lạc không có.

✳ Dù rằng là thọ lạc đi chăng nữa, thọ lạc này vẫn có tướng khổ là vô thường, không vững chắc tồn tại được, là sự sanh và diệt theo lẽ tự nhiên. Nếu nói theo tính chất riêng thì thọ lạc ấy có tính chất thô, nhưng nói theo tướng của thọ lạc ấy cũng vẫn là thô. Vì sao? Vì cái gì vô thường, cái ấy là khổ.

✳ Điều này trừ được cái ảo tưởng của tà kiến phải chăng?

✳ Phải rồi! Vì vậy ta cần phải học cho hiểu rành rẽ như người học chữ chưa thuộc thì đọc không được, cũng có người học chữ lâu rồi mà đọc chữ không thuộc cũng có, có người thì chỉ một tháng là đọc được ngay. Như vậy là tùy theo phước độ của người vậy. Cũng như sự hành Minh sát, ta phải tập học các hành Minh sát và tỉnh giác trong cách hành Minh sát cho chính xác trước, đến khi hành thì áp dụng tỉnh giác trong sự xem danh sắc hành được chính xác với điều học.

Cần phải khảo sát sự hiểu biết của hành giả luôn rằng: Cái gì là sắc? Cái gì là danh? Nếu họ trả lời rằng: Ngồi là sắc còn biết là danh, như vậy là trả lời sai. Phải trả lời rằng: Ngồi là sắc còn biết sắc ngồi là danh. Thiền sư cần phải hỏi hành giả như vậy đủ cả 6 cảnh.

Danh có nhiều thứ, sắc có nhiều loại, danh biết sắc ngồi là khác, không phải chỉ biết là một loại danh, phải nhận biết rõ nhiều thứ như vậy, phải ghi nhận tất cả danh và sắc như thế. Nếu niệm rằng: "Ngồi là sắc biết là danh, đứng là sắc, biết sắc đứng là danh…". Như vậy khối tư tưởng sẽ không phân tán, vì hiểu rằng: chỉ có một thứ danh, chính một cái danh nhận biết được tất cả… Sẽ đưa đến chấp thủ rằng: Danh này thường còn bất biến, bất diệt như vậy lại rơi vào thường kiến, thật ra thì: Danh này có tùy theo loại, mỗi mỗi danh là mỗi mỗi loại và sắc danh nào khi sanh lên đều phải diệt đi cả.

✳ Tại sao phải biết là sắc ngồi? Biết rằng là ngồi không thôi, không được sao?

✳ Không được, vì khi ấy sẽ có ta ngồi, rồi rút cái ta ra không được, cần phải biết cái gì ngồi và ngồi làm gì? Có người nói rằng: Sự hành niệm xứ phải hành cho đủ 4 như hành thân niệm xứ cho đến khi đắc chứng Tu Đà Hườn Quả, rồi hành tiếp Thọ niệm xứ cho đến khi đắc chứng Tư Đà Hàm Quả, lại tiếp tục hành Tầm niệm xứ cho đến khi đắc chứng A Na Hàm Quả và sau cùng phải hành Pháp niệm xứ cho đến khi đắc chứng A La Hán Quả.

Đây là tri kiến của con người khác nhau vậy đấy. Sự hành niệm xứ này tất cả là 44 đề mục, gồm lại là 44 phần. Đức Phật Ngài có cho ví dụ rằng: đồng như một kinh thành có 4 cửa khi muốn vào cửa nào cũng được, tùy theo sự thích hợp và tùy thiện tất cả đều dẫn đến trung tâm kinh thành được cả. Không phải đi vào cổng này rồi trở ra theo cổng khác đi vào rồi lại trở ra… đủ hết 4 cửa mới đến được trung tâm thành phố.

Do vậy, pháp học rất quan trọng phải học cho nhập tâm, cho đúng theo căn bản và lý nhân quả nơi giáo pháp của Ngài… Sự hành niệm xứ này hành giả chọn đề mục nào trong 44 đề mục đều được cả, miễn sao đề mục này hợp với cơ tánh của mình và sẽ đạt được kết quả đồng nhau. Do vậy sự học pháp thật là quan trọng. Ngài phân pháp bảo ra làm 3 cách: Học (kinh luật và luận), Hành (giới, định và tuệ), Thành (đạo, quả và Níp Bàn).

✳ Vậy thì hành như thế nào mới có cơ hội đắc chứng?

✳ Thì hành theo lời dạy trong kinh Đại niệm xứ đó thôi, mới trừ được sự hiểu lầm thường có là: cho rằng là ta phát sanh do ái, do ngã mạn, do kiến chấp… cho đến khi đắc chứng Níp Bàn thành bậc Thánh. Chỉ có một con đường duy nhất đó thôi, đó là hành theo lời dạy trong kinh Đại niệm xứ.

✳ Xin hỏi ngoài ra một chút về giới cấm thủ đó có nghĩa

✳ Giới cấm thủ là gì? Có người nói rằng: Sự lễ bái Chư Thiên, thần thánh… hoặc lễ bái cái chi ngoài Tam Đạo ra, đó là giới cấm thủ cả. Sự thật là không hẳn là như vậy đâu. Đức Phật đã dạy chúng ta rằng: Cúng dường là hạnh phúc cao thượng, như trong kinh hạnh phúc đây. Ngài có cấm đâu. Có người giải rằng: Giới cấm thủ là sự rờ mó khi thọ giới luôn luôn cũng là sự rờ mó vào giới. Thật ra giới cấm thủ không phải có ý nghĩa như vậy, vì sao? Vì phận sự trong phật đạo có 4 phận sự là: Phận sự trừ, phận sự tác chứng, phận sự tu tiến và phận sự biết rõ. Giới cấm thủ nằm trong phận sự phải sát trừ, còn ngũ giới, bát giới là phận sự cần tu tiến tức là phải hành cho nhiều. Vì thế cho nên người thọ trì giới luôn luôn rơi vào giới cấm thủ thì không đúng. Lại nữa người mà lễ bái Chư Thiên để cầu xin được về Níp Bàn, cầu xin được hết phiền não… như vậy mới là giới cấm thủ. Còn nếu như cầu xin Chư Thiên hộ trì giúp đỡ thoát qua những tai họa… thì không gọi là giới cấm thủ. Giới cấm thủ là ý cho rằng sự cúng tế, van bái, cầu khẩn Chư Thiên rồi vị ấy giúp cho họ đến Níp Bàn chấm dứt được mọi khổ não.

✳ Xin hỏi về điều che đậy danh sắc. Có câu nói rằng: ái sơn phết, vô minh che đậy, như vậy nghĩa là gì?

✳ Vô minh là nguồn gốc của mọi thứ bất thiện. Vô minh là sự không biết Tứ Thánh Đế vì vậy ta phải làm phận sự của Tứ Thánh Đế cho đúng. Xin hỏi rằng: Danh sắc là Thánh Đế nào?

✳ Là Khổ đế.

✳ Đúng vậy, nhưng khi chưa thấy khổ thì chưa muốn tách rời khỏi khổ. Chỉ khi nào thấy rõ rằng: khổ khi muốn thoát ra khổ. Sự thấy được khổ là nguyên nhân khiến ta hành rốt ráo để tiến đạt đến sự dứt khổ, khi ấy có sự tinh tấn quyết tâm nhưng hành giả mãi cũng không thấy hết khổ lâu ngày sinh ra thối thất vì không thấy được cái gì khởi lên cả. Có sự thấy trông mong thấy danh sắc cho mau mau mong muốn đắc pháp cho nhanh chóng, chính sự trông mong, mong muốn ấy nó che đậy không cho thấy danh sắc đúng theo sự thật.

 


← 11 12 13 →

Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika
(Thích Huyễn Đạt dịch)

Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de