www.tudieu.de

Biện Giải Tâm Pháp - Ghi chú

← 3 Trang Đầu 5 →


Đề tài 4

“Danh và sắc là cảnh của ai, có lợi ích gì?”

✳ Nói chung danh sắc là cảnh của ai cũng áp dụng được cả, vì rằng: không có cái chi ngoài Danh và Sắc cả. Danh Sắc là cảnh của trí cũng được, hoặc là cảnh làm cho tuệ minh sát sanh khởi cũng được và Danh sắc ấy là đề mục đưa đến Níp Bàn. Hoặc là cảnh của thiện hay bất thiện cũng được.

✳ Nên phân tích rằng: Do nhân gì danh sắc là cảnh của phi phiền não. Do nhân gì danh sắc là cảnh của tuệ?

✳ Trong thực tập nên hỏi những hành giả rằng: Danh sắc là cảnh của ai? Do nhân gì? Xem họ trả lời như thế nào, đây cũng là một lý lẽ phải nói một cách khác. Vì trong thế gian không có cái gì ngoài ra danh sắc. Trong tam tạng kinh điển cũng nói toàn là danh sắc, không nói điều gì khác.

✳ Sự việc ta học danh sắc là để dứt bỏ phiền não, để thoát khỏi tà kiến, thoát ra khỏi sự hiểu biết lầm là ta, là của ta tất cả... Khi nhận thấy là ta, là tự ngã của ta, thì bị phiền não nó sai khiến mãi, bị nó lường gạt. Người khác lường gạt ta, rồi tự mình lại lường gạt mình nữa, luôn luôn lường gạt lẫn nhau bằng đây là tự ngã của ta không làm sao rút được cái ta ra khỏi... sự học cho biết các tầng bậc minh sát ấy, để chia ra từng phần... như là: cái này là danh, cái này là sắc.

✳ Là không phải người, không phải thú... Sự học và hành về danh sắc cũng vì lợi ích này là dứt ra được sự mê lầm lẫn.

✳ Tôi thấy cần phải phân tích rằng: Danh sắc là cảnh của ai, làm cảnh thế nào? Và nó làm cảnh của minh sát ra sao?

✳ Vấn đề ở đây nói chung, nếu nói theo bản thể, bản chất của danh sắc thì danh sắc là cảnh của tất cả ở trong đời này, vì không có gì ngoài danh sắc. Do vậy danh sắc là duyên của phiền não cũng được. Nhưng nếu phân tích rằng:

- Danh sắc là cảnh của phiền não, là do ái và thủ... nếu tâm biết danh sắc là tâm dính mắc với ái thì sẽ cho rằng: Đây là ta, đây là con ta, là của ta... danh sắc bây giờ trở thành cảnh của đổng lực ái.

- Danh sắc là cảnh của minh sát, biết được danh sắc do trí tuệ tức là thấy được bản chất của danh sắc là vô thường, khổ não và vô ngã.

Nếu danh sắc là cảnh của phiền não thì duyên cho phiền não tăng trưởng. Riêng về danh sắc nào sanh lên làm cảnh cho trí tuệ danh sắc ấy có nhiều lợi ích, có thể đưa đến đắc Quả, đắc Đạo và chứng ngộ Níp Bàn được.

✳ Xin hỏi rằng: Níp Bàn là danh hay là sắc?
✳ Là danh pháp.

✳ Tại sao Níp Bàn là danh, nếu người nào biết danh rồi thì người đó biết được Níp Bàn phải chăng?
✳ Níp Bàn ở trong danh pháp, không phải ở trong sắc pháp, Níp Bàn không có bản thể, màu sắc, không có hình tướng.

✳ Danh tức là tứ danh uẩn, như vậy Níp Bàn ở trong danh uẩn ấy phải chăng?
✳ Níp Bàn tuy ở trong danh pháp nhưng không là danh uẩn, đặc tính của các pháp là tâm - tâm sở - sắc pháp và Níp Bàn. Tâm sở chính là danh uẩn mà danh uẩn cũng là danh pháp. Và Níp Bàn là loại danh khác danh uẩn, Níp Bàn là cảnh pháp.

✳ Ai Níp Bàn?
✳ Chính phiền não Níp Bàn.

✳ Phiền não là danh hay sắc?
✳ Phiền não là danh.

✳ Thông thường người không cho phiền não vào Níp Bàn. Chỉ mong đem cái tốt đẹp vào Níp Bàn, lấy sự thanh tịnh là Giới - Định - Tuệ đem vào Níp Bàn, còn phiền não thì ở lại với mình, vì vậy cái tốt đẹp không có. Cái gì đến Níp Bàn rồi thì không còn sanh trở lại nữa, khi đem cái tốt vào Níp Bàn hết chỉ còn cái xấu ở lại với ta, đó là sự hiểu biết lầm lẫn. Đã biết rằng phiền não là xấu, Níp Bàn là tốt, nên cho rằng: Làm sao mà mang phiền não là cái xấu vào Níp Bàn cho được, nên giữ lại phiền não là cái không tốt. Hiểu như thế là hiểu sai, vì đã hiểu rằng: Níp Bàn giống như một chỗ ở hay một trú xứ

✳ Nhưng thực ra phiền não cũng không đến được Níp Bàn, chỉ có tâm đạo chứng ngộ Níp Bàn vì rằng: Đạo không có phiền não.
✳ Vì Đạo không có phiền não nên mới chứng đắc Níp Bàn nếu Đạo có phiền não thì Đạo không biết Níp Bàn được.

✳ Tại sao phiền não cũng được xem là Níp Bàn?
✳ Níp Bàn và phiền não thì đối nghịch nhau do vậy cần phải mang phiền não đến Níp Bàn. Tức là cái gì đến Níp Bàn rồi thì cái ấy không còn sanh lại nữa.

✳ Trong Đạo không có phiền não tại sao Đạo lại chứng được Níp Bàn?
✳ Thật ra từ khi tu tiến tuệ quán khi có được tâm đạo sanh khởi thì phiền não đã được trừ đi rất nhiều lần rồi.

Sự trừ phiền não ấy có ba cách là:
  1. Trừ bằng cách tạm thời.
  2. Trừ bằng cách xuất ly (áp chế phiền não do thiền định).
  3. Sát trừ tuyệt dứt (bằng tâm đạo siêu thế).

✳ Vậy thì khi đắc chứng Níp Bàn, gọi là người đắc đạo?
✳ Đúng vậy, phiền não làm sao mà đến Níp Bàn được?

Chính vì có Níp Bàn làm cảnh nên phiền não mới bị diệt không sanh khởi trở lại được nữa tùy theo bậc đạo. Trong khoảng cách chưa chứng đạt Níp Bàn thì tạm thời cũng được sát trừ bằng cách xuất ly cũng có. Và khi đến Níp Bàn rồi mới sát tuyệt phiền não.

Do đó nhờ đắc chứng Níp Bàn, phiền não được đoạn trừ tức là tiến hành cho đến khi không còn phiền não. Cái ta không còn nữa trong đời.

Tuy rằng những việc thiện như bố thí, hành thiền… là những việc làm không có phiền não nhưng phiền não cũng nương sanh từ nơi đó được cả. Và vì vậy, những việc phước thiện ấy không thể gọi là Níp Bàn được. Và trước khi đạt đến Níp Bàn, cần phải sát trừ phiền não trước (bằng tạm thời hay bằng cách xuất ly), không phải sát trừ sau khi chứng đắc Níp Bàn.

✳ Có người hỏi rằng: Danh sắc là vô thường, là khổ não, là vô ngã… tất cả chỉ là bản chất của tứ đại thôi (sắc)… Sự hiểu biết này làm nhân cho tăng thượng giới để đạt đến bậc Tu Đà Hườn.

Nhưng cũng có chủ thuyết rằng: Họ cũng dạy một giáo lý, cũng có sự hiểu biết như vậy, nghĩa là tất cả đều là rỗng không, nhưng lại là nhân tạo can đảm, không sợ tội lỗi, tạo tác ác nghiệp.

Vì rằng họ cho mình chẳng phải giết người chi cả, hay là sát sanh chi hết, chỉ là vũ khí bén nhọn, sắc bén, lướt vá tứ đại này chạm vào bản chất tứ đại kia mà thôi… Như vậy, sự khác nhau như thế nào giữa hai sự hiểu biết: hiểu biết của minh sát và hiểu biết của thuyết ấy? Vì kết quả đã thấy rằng trái ngược.

✳ Có sự khác nhau là: sự hiểu biết về minh sát tuệ làm cho phiền não lắng đọng, còn sự hiểu biết bởi chủ thuyết kia thì làm cho phiền não khởi dậy, làm cho sát sanh và áp bức lẫn nhau.
✳ Họ cũng hiểu biết rằng đó cũng là bản chất vậy.

✳ Nhưng họ có dứt được tham, sân, si hay không? Trong sự hiểu biết rằng đó chỉ là bản chất?
✳ Như vậy họ cũng đã hiểu sai như thế nào? Họ cũng hiểu đúng đó là Tứ đại vậy?
✳ Không đúng đâu, họ chỉ là suy luận mà thôi. Nếu quả thật họ đã hiểu biết thì sẽ làm cho họ an vui, sẽ không có sự ức chế lẫn nhau. Nếu đã thật sự biết rằng đó là bản chất thì việc gì phải đem vũ khí giết nhau?

✳ Nhưng họ cho rằng: Đó không phải là người hay thú, nên họ không phải giết người hay giết thú và như thế họ vô tội.
✳ Giết người ấy, giết do năng lực của sân phải chăng? Và như thế nên đã cho rằng: Bản thể kia không phải là người hay thú thì tại sao lại tức giận? Và giận ai? Hay phải giết ai? Vì đã không phải là người hay thú kia mà. Một chủ thuyết như vậy, là do họ dựa vào ngụy biện, tuy họ cho rằng là bản chất nhưng thật ra họ còn chấp thủ, chấp ngã, cho rằng ta là người…

✳ Xin tóm lược vấn đề danh sắc lại. Danh sắc có lợi ích như thế nào trước khi tiếp tục thảo luận đến đề tài thứ năm.
✳ Danh sắc có lợi ích ra sao? Xin đem câu chuyện Đức Phật Ngài thuyết cho 30 vị hoàng tử đang đi tìm cô kỹ nữ trộm đồ.

Ngài phán dạy rằng: Tất cả phàm phu cho rằng có một bản ngã, một cái ta khi có ta thì phải có cái của ta. Sự thật thì không có cái của ta. Chỉ có danh và sắc mà thôi, bậc trí giả đều thấy rằng:
Không có bản ngã, không có ta, khi đã không có ta thì cái gì là của ta? Lợi ích là như thế ấy. Khi không có ta thì không có sự khổ, khổ mà có là do buồn rầu, than khóc, ưu não sanh khởi lên, do chấp ta, chấp là của ta.

Câu nói “không phải của ta” nghĩa là vô ngã, khi đã thấu đáo sự vô ngã không phải ta – thì đạt tận Níp Bàn thấy tất cả danh sắc, không là ta thì sự thương tiếc, ưu não, sầu khổ cũng không có. Nếu con người khác chết, ta không buồn rầu khổ vì không phải là của ta, nếu không có ta thì con ta đã không có, chỉ cần hành giả thấy được danh sắc như thế, thấy được sự thật như vậy thì sự buồn khổ sẽ chấm dứt ngay. Nếu còn có ta thì không đến Níp Bàn được.

Một khi đã thấy rõ “không phải là ta” thì không có ta rồi thì phiền não không thể sanh khởi, đó là lực đắc cao thượng. Do vậy, sự huấn luyện người hành thiền minh sát trong giai đoạn đầu, tôi nhận thấy rằng: không cần phải dạy nhiều lắm, chỉ dạy cho sự cảm nhận thấy danh sắc, bấy nhiêu thôi cũng đủ.

Các pháp của Thiền Quán, tuần tự tiến lên tuệ bậc cao cũng nương vào danh sắc đó, khi hành giả đạt đến thuần thục trong danh sắc rồi. Nghĩa là đạt được đã thấy được thiền tố, thiền tố ở đây không phải là một nhân vật nào khác cả, mà là tên gọi của thiền danh sắc, gọi là Nissatta Nijjiva Dhamma (phi mạng, phi mạng pháp), không phải là thú, là người, không phải là bản ngã.

Khi hành giả đạt được danh sắc rồi thì sẽ bám theo danh sắc, chính danh sắc ấy là người dạy cho chúng ta chứng đắc Níp Bàn, chính danh sắc này là người dẫn ta đi, chẳng phải ai cả, dù cho Đức Phật, Ngài không thể dẫn ta đi được.

✳ Câu nói “bản ngã” với câu nói “ta” giống nhau không?
✳ Không khác nhau đâu, giống nhau đấy.

✳ Vị Tu Đà Hườn còn câu nói ta không?
✳ Vị Tu Đà Hườn cũng còn có ta, gọi là ta có 3 ý nghĩa là:
  1. Ta do ngã mạn.
  2. Ta do kiến chấp.
  3. Ta do ái.

Vị Tu Đà Hườn đã diệt trừ cái ta do kiến chấp hiểu lầm là bản ngã. Nhưng chưa thật diệt trừ được ta do ngã mạn, ta do ái. Như vậy vị ấy nghĩ rằng: Ta nhập thiền, ta xuất thiền… Như vậy vị Thánh Tu Đà Hườn vẫn còn ta do ngã mạn, ái. Bậc A La Hán thì không còn cảm tưởng ta nhập thiền hay ta xuất thiền.

✳ Sự thấy ta do kiến chấp, do ngã mạn khác nhau ra sao? Cái ta ngã mạn không phải là bản ngã phải chăng?
✳ Ta do ngã mạn ấy không phải là bản ngã nhưng vẫn còn cái ta. Như Ngài Anuruddha, bây giờ Ngài là bậc Thánh A Na Hàm. Ngài đã nói với trưởng lão Sārīputta rằng: “Tôi có thiên nhãn thấy được cả ngàn vũ trụ...” như vậy là ta do ngã mạn.

✳ Xin hỏi trước bản ngã là gì?
✳ Bản ngã là chấp thủ cái ta với tất cả mọi thứ... cưỡng ép, sai khiến được, nhưng mọi điều, mọi thứ đều không thể cưỡng ép, sai khiến và ngăn cấm được. Trước hết là hành giả phải tác ý cho đúng cách là phải nhận định rằng mọi vật, mọi thứ không tiến hành theo ý của ta, hoặc không thuộc quyền của ta. Khi tác ý đúng pháp rồi, ái không dễ đâu gì xâm nhập được. Nếu không tác ý như vậy, khi có sự phóng dật sanh khởi... thì ta khó chịu, muốn cho sự phóng dật ấy mất đi... nhưng nó không ở quyền của ta sai khiến được...

Khi nó phóng dật liên hồi, nó sẽ tự nó diệt đi (tùy thân) không phải nó diệt đi là do ta muốn... Nếu không như lý tác ý thì tuệ không sung mãn. Vì rằng: mọi vật... mọi thứ... đã sanh lên rồi, thì phải diệt đi. Điều này Đức Phật đã dạy rằng: “Sappe sakkhārā aniccāti...”. Chư hành vô thường, không có cái gì là sự thật hữu vi thường hằng. Hành giả chỉ có phận sự là xem nó diễn tiến, giống như người đang xem diễn kịch. Nghĩa là xem danh sắc diễn tiến như đang xem diễn kịch không phải là người tập diễn kịch. Người (sắc hay danh) nào xuất hiện, cũng chỉ là diễn viên đóng kịch và hành giả cũng chẳng phải xem riêng biệt một diễn viên, phải xem hết tất cả diễn viên mới hiểu rõ câu chuyện. Và tất cả đều là pháp, kể cả phóng dật cũng là pháp vậy.

 


← 3 4 5 →

Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika
(Thích Huyễn Đạt dịch)

Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de