Đề tài 8
"Niệm và tỉnh giác khác nhau ra sao? Như trong tứ oai nghi… chỗ nào là niệm, chỗ nào là tỉnh giác? Và xin hỏi thêm nữa là chỗ nào gọi là tinh tấn gọi là Ātāpī?"
✳ Chánh niệm có phận sự nhận biết nơi cảnh, tỉnh giác có phận sự biết mình, như khi xem sắc ngồi chánh niệm có phận sự biết, ở tướng ngồi, còn tỉnh giác biết rằng cái tướng ngồi, không phải là ta ngồi… Biết như vậy, mỗi mỗi oai nghi. Vì tất cả chỉ có danh và sắc mà thôi. Như trong sự thấy, chánh niệm biết sự thấy, còn tỉnh giác biết rằng: sự thấy là danh (không phải ta thấy). Vì vậy, chánh niệm và tỉnh giác phải đi đôi với nhau trong lúc hành thiền minh sát. Hành giả phải có danh hay sắc đi kèm với nhau liên tục, tùy theo cảnh đối diện là sắc hay danh, nếu là cảnh cũng phải ghi nhận là sắc (ngồi nữa…) cho đến khi thuần thục, vừa ghi nhận ở tướng ngồi thì biết ngay là sắc ngồi, nếu ta không thuần thục trong danh sắc thì các pháp khác không sanh khởi được, vì rằng: Danh sắc là nghiệp xứ của thiền Quán (minh sát). Thật ra nghiệp xứ (đề mục thiền) của Thiền Minh sát ấy cũng tương đương bằng với thiền Chỉ. Thiền Chỉ có 40 đề mục thì thiền Quán cũng có 40 đề mục nghiệp xứ là: Vô thường có 10 đề mục, khổ não có 25 đề mục, vô ngã có 5 đề mục.
Do vậy khi hành thiền quán thì cũng phải có nghiệp xứ một loại nào trong 40 đề mục này,
Sự khác nhau giữa đề mục nghiệp xứ chỉ và đề mục nghiệp xứ quán là: Đề mục nghiệp xứ chỉ thì thứ nào riêng thứ đó, nghiệp xứ quán thì hành được 40 đề mục tùy thuận của hành giả, phần tỉnh giác thì chỉ có phận sự biết rằng: Đó là sắc hay danh chỉ có thế thôi nên chánh niệm không đưa cảnh ấy ra trình bày, nghĩa là không nhận biết nơi cảnh ấy thì tỉnh giác không làm thành lợi ích được, vì không biết rằng đó là danh hay sắc. Do vậy hành giả cần phải có chánh niệm và tỉnh giác kết hợp với nhau luôn.
Thiền sư cần phải tra hỏi danh sắc mỗi ngày, mặc dù đã nhớ được rồi mà chưa thuần thục thì cũng không áp dụng được, vì thiền Quán quan trọng nhất ghi nhận danh sắc này là rành rẽ và thuần thục về danh sắc, nếu không có danh sắc làm nền tảng vững hắc, sự hiểu biết tam tướng ấy vẫn chưa đạt thành, vẫn còn thấy ta-ta vô thường, ta khổ não, ta vô ngã. Cái gì cũng có dính mắc trong đó.
✳ Trong đề mục này, giáo sư đã tóm lược đầy đủ, dễ hiểu rồi nhưng còn một điều nữa. Chỗ nào là sự tinh tấn gọi là Ātāpī?
✳ Ātāpī hay sự tinh tấn trong niệm xứ ấy có bốn loại Tứ chánh cần hoặc Tứ thu thúc. Bắt đầu là tinh tấn trừ bất thiện pháp sẽ sanh không cho phát sanh… Nói như vậy thì dễ hiểu lắm, nhưng lập lại vấn đề. Bất thiện pháp là gì? Điều này có thể trả lời không đúng. Vậy bất thiện pháp là gì?
✳ Là si.
✳ Nghĩa là Tứ chánh cần này trong phạm vi của định, vậy pháp bất thiện đã từng sanh rồi không cho sanh nữa là canh chừng không cho phát sanh (không cho tái khởi). Như vậy, pháp bất thiện này không phải là chuyện sát sanh… là phần của giới. Những chánh cần này thuộc thành phần của định. Do vậy, pháp bất thiện đã từng sanh rồi không cho sanh nữa… tức là pháp gì?
✳ Tức là pháp cái.
✳ Đúng vậy, pháp bất thiện này chính là pháp cái. Xin hỏi rằng: Tham và ưu, chính nó là pháp cái phải chăng? Pháp là pháp cái ấy thuộc về phần định. Phải sát trừ những loại phiền não này bằng cách ức chế. Còn tham tức là dục cái, ưu là sân cái khác lắm, nhưng ở đây không nói những thành phần hay khía cạnh khác của tham, ưu (ở đây trong phạm vi) của Tứ chánh cần, là xác định bất thiện pháp mà phải trừ chính là pháp cái.
Tứ chánh cần có 4 tướng, 4 tướng này không phải làm riêng rẽ, mà khi tác ý một lần phải đủ cả 4 tướng. Không phải dục cái sanh khởi lên rồi tác ý một thứ… sân cái khởi lên rồi thì lại tác ý một thứ khác, không phải như vậy, khi dục có mặt thì sân cái vắng đi và ngược lại (vì sân và dục không thể cùng hiện hữu). Do vậy, khi tác ý một lần thì cả bốn phận sự của Tứ chánh cần cùng nhau hội đủ cả.
✳ Chánh cần này là bản thể của định, làm phận sự sát trừ phiền não hoặc những pháp đang vây hãm tâm.
✳ Một lần tác ý ta cũng có thể thêm chánh niệm một lần. Tác ý liên tục thì ta sẽ có chánh niệm liên tục, và làm cho pháp cái chưa sanh sẽ không sanh, còn pháp cái nào đã sanh rồi chấm dứt. Trong lúc có chánh niệm thì pháp cái nào đang sanh cũng diệt mất.
Bây giờ nói về phần thiện pháp. Thiện pháp mà chưa sanh làm cho sanh khởi, thiện pháp ở đây chính là Niệm-Định-Tuệ. Khi pháp cái là vật ngăn chặn đã bị sát trừ (khi có chánh niệm). Chánh niệm có thì pháp cái cũng bị diệt. Niệm tăng trưởng thì định và tuệ cũng tăng trưởng… Đó là tướng của tinh tấn Ātāpī.
Làm thế nào cho thiện pháp sanh khởi - Niệm làm cho thiện pháp sanh khởi, khi thiện pháp sanh lên rồi thì phải bảo dưỡng, gìn giữ cho tăng trưởng lên, đó là tướng của Ātāpī trong niệm xứ.
Có khi hành giả đã từng gặp, nhưng không biết cách giữ gìn, không có bảo cần, khi thiện pháp mà mất đi rồi, khó mà làm cho sanh trở lại được, vì sao vậy? Vì không có sự ghi nhớ trong lúc ấy, không có nhớ được rằng: Mình hành tâm trong lúc ấy nặng nhẹ cỡ nào, có trạng thái ra sao? Nếu đã ghi nhớ thọ trì như vậy rồi mặc dầu pháp thiện ấy có mất đi… Vì có niệm xao lãng, có niệm chưa già dặn, nhưng ta cũng lấy lại được, nếu không ghi nhớ, giữ lại khi pháp thiện ấy mất, cố gắng nhớ lại cũng không lấy lại được, điều này cũng sẽ trở thành ái, thế vào dục cái (đã đạt được).
Thật ra điều đã thấy là quả của cái, tạo nhân như thế nào thì đặng như thế ấy. Hành tâm như thế nào, mạnh hay yếu như thế nào, ghi nhận cảm giác ra sao? Khi ấy pháp thiện mới sanh khởi thành quả.
Nghĩa là sự hành của ta đúng mức thì pháp thiện sanh khởi (ở đây là tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác) rồi diệt đi. Riêng giờ tìm lại, chính là muốn đạt được thành quả như vậy thì phải tạo nhân cho quả ấy sanh. Nhưng vì thiếu niệm không ghi nhớ lại nhân ấy thì làm thế nào có quả cho được. Bản chất của tâm là sanh-trụ-diệt, không tồn tại, khi mà nhân hết thì quả phải diệt, nếu không làm cho nhân sanh mà đi tìm quả thì không đạt được.
Do vậy sự ghi nhớ là điều cần thiết cho hành giả, sự ghi nhớ ấy gọi là Sikkhati này rất quan trọng, nếu hành giả không có sự ghi nhớ khi đạt được cảnh hiện tại rồi, thì sẽ mất đi, khi ấy lại mất hết… khi tìm lại, cảnh hiện tại sẽ mất, vì rằng: Tìm quả trong quá khứ nên tâm không an trú trong danh sắc hiện tại và cũng không có cách gì tìm quả ấy được nữa.
✳ Có sự thắc mắc rằng: Dù ghi nhận sắc hay danh cũng vậy, phải có sắc hay danh làm đề mục sẵn. Tại sao trong niệm xứ chỉ nói đến tinh tấn-chánh niệm-tỉnh giác bấy nhiêu thôi? Nhưng pháp quyền lại có đến 5 là tín, tấn, niệm, định, tuệ. Trái lại niệm xứ lại có 3, tại sao không đủ 5 quyền?
✳ Tứ chánh cần là tên của tinh tấn trong niệm xứ. Ta cần phải biết rằng: sự tinh tấn (viriya) trong chỗ ấy là phận sự gì? Có tướng ra sao? Ví rằng: chỉ có một con đường đưa đến sự thanh tịnh, không có con đường nào khác.
Sự tinh tấn có nhiều thứ như trong đạo gọi là chánh tinh tấn, trong niệm xứ gọi là Ātāpī, trong Bồ Đề phẩm gọi là Tứ chánh cần, cùng một cái tên nhưng ở mỗi chỗ có một ý nghĩa khác nhau. Một pháp có khi có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng ý nghĩa có thể đồng nhau.
✳ Nhưng phải sanh cùng nhau trong năm quyền tức là phải sanh đồng nhau.
✳ Trong kinh Đức Phật dạy rằng: "Ngũ quyền phải đồng nhau một quyền nào trội hơn cũng không được, nếu tinh tấn quá thì làm cho phóng dật nương vào đó sanh khởi, nếu định nhiều quá thì làm cho bất chuyển không trợ duyên cho pháp khác tăng trưởng và do đó hôn thụy nương sanh, cảnh của ái và đức tin lại là một, do đó người có nhiều đức tin thì ái xâm nhập, trí tuệ quá mạnh làm duyên cho hoài nghi nương sanh. Vì thế, đức tin và trí tuệ phải đồng đẳng, nếu không có trí tuệ thì ái xâm nhập vào đức tin, nếu không có đức tin thì hoài nghi lấn chiếm. Và khi đức tin có đủ sức mạnh thì sự hoan hỷ cũng theo đức tin mà sanh khởi. Tấn và định cũng đồng đẳng như vậy. Còn ngũ lực thì chi pháp cũng như ngũ quyền, chỉ khác nhau về khía cạnh là: quyền thì nói về khía cạnh lớn, trưởng còn lực thì nói đến sức mạnh. Khi hành thiền quán thì niệm nhiều càng tốt, nhưng riêng về tín, định và tuệ thì phải đồng đẳng. Còn hành thiền chỉ thì định càng nhiều cũng không sao, càng tốt.
✳ Xin hỏi về chánh niệm tỉnh giác trong niệm xứ với chánh niệm tỉnh giác trong mi tiên kinh. Trong bộ này, Ngài Nāgasena giải rằng: Chánh niệm ví như sự gom lấy bông lúa níu lại trong khi cắt còn tỉnh giác cắt đi. Vậy chánh niệm hai nơi này khác nhau hay giống nhau.
✳ Trong Mi tiên vấn đáp Ngài Nāgasena định nghĩa rằng: Chánh niệm được ví vào phần thiện pháp. Thiện là gì? Có nơi bảo rằng: Pháp gọi là thiện là pháp cho quả vui, pháp cho quả khổ gọi là pháp bất thiện. Vậy lấy điều này mà xác định thiện hay bất thiện. Riêng về trong kinh Mi tiên vấn đáp thì như thế nào? Thiện có tướng ra sao, có phận sự ra sao? Trong kinh Mi tiên vấn đáp có cho ví dụ rằng: Cắt là cắt cái gì? Khi pháp bất thiện đang sanh khởi… Nếu có chánh niệm tỉnh giác thì pháp bất thiện ấy bị diệt, giống như người ta cầm liềm cắt lúa ý nghĩa cũng như nhau, đồng một ý nghĩa, ví rằng sự thuyết giảng của Đức Phật có ba cách là:
- Nghĩa thuyết (pháp học).
- Nghĩa hành (pháp hành).
- Nghĩa sự (pháp thành).
Nghĩa sự là lai lịch, biến chuyển của đặc tánh (trạng thái pháp) phận sự, tướng và quả. Như nhãn thức có đặc tánh như thế nào? Có phận sự gì? Có tướng ra sao? Có thành quả ra sao? Nếu ta không hiểu được, thì làm sao nương vào pháp học để thực hành.
Trái lại lấy pháp hành mà học, hoặc lấy nghĩa sự mà Ngài đã thuyết giảng, rồi thuyết giảng rằng: Đặc tánh của pháp như vầy, có đặc tướng như vầy, có phận sự như vầy… thì không phải dễ hành nữa.
Mỗi pháp đều có 4 ý nghĩa, dù là sắc hay danh cũng vậy. Đó là trạng thái - phận sự - thành quả - nhân cận.
Nếu ta không hiểu như vậy rồi, có khi lấy Pháp học đem hành, lấy Pháp hành đem ra học, tức là lấy quả làm nhân, lấy nhân làm quả.
Như vậy có thuyết chủ dạy rằng: "Tâm không" rồi nói rằng tâm không là Níp Bàn, câu nói tâm không này là quả hay là nhân? Đó là quả thì nhân làm cho tâm trở nên không là sao? Nhân làm cho sanh quả thành tâm không ấy là thế nào? Và điều này họ có dạy hay là không? Còn Đức Phật Ngài đã dạy: Tất cả phải liên kết với nhân quả, tất cả đều chảy ra từ nhân, có nhân là sở sanh.
Có chủ thuyết dạy cho từ bỏ tự ngã - cái ta "của ta" dạy từ bỏ không chấp thủ hãy buông trôi tất cả… Nhưng sự hành thì giống như dùng tự ngã sai khiến được. Họ cho rằng vô ngã là cốt yếu trong giáo lý này, nhưng sự thực hành của họ là hữu ngã? Vì sao? Vì thật vô ngã thì không ở dưới quyền sai khiến của ai cả. Nhân thế nào thì quả sẽ như thế ấy, không một ai cưỡng ép được…
Nhưng chủ thuyết về chơn không này, họ không có phương cách tạo nhân, họ chỉ dạy toàn là không vậy thôi, và họ cho rằng: sự toàn là không ấy chính là Níp Bàn. Họ không dạy cách tạo nhân sanh quả đáng mong mỏi ấy, và như thế đã ngược lại chủ thuyết vô ngã này thành sanh ra vô ngã của họ có thể sai khiến được. Còn vô ngã của Đức Phật thì không ở dưới quyền điều khiển của ai cả, không tuân thủ theo một ai, chỉ diễn tiến theo nhân duyên mà thôi. Nhưng họ thì khác, ở đây họ không có nhân duyên họ chỉ ra lệnh là nếu người nghe là người không thấu đáo về lý nhân quả, người ấy sẽ vô cùng thỏa thích vì thấy quá dễ dàng, cưỡng bách được như ý mốn. Nhưng được hay không lại là chuyện khác.
Sự dứt bỏ được tự ngã phải có nhân quả. Ta tự ra lệnh biểu nó được chăng? Mi hãy đi ra để cho tâm ta tuyệt không còn phiền não… Ta bảo nó, bắt buộc nó được hay chăng? Phiền não nó chiếm ngự ta đã lâu đời rồi, đã từ vô lượng kiếp cho đến nay… Do vậy cách thức sát trừ phiền não cho tuyệt dứt ấy phải tạo nhân cho đúng với quả khi ấy phiền não tự nó chấm dứt vậy.
✳ Tại sao phải ghi nhận sắc trước, đôi khi sanh trước cũng có vậy?
✳ Lúc mới hành thiền quán phải ghi nhận sắc trước, vì sắc ấy thô thiển, không vi tế sâu sắc như danh, sắc dễ thấy. Còn danh thì rất vi tế khó mà người mới tập hành thiền quán nhận ra được, khi nhận được sắc thành cảnh hiện tại rồi, thì danh cũng tự xuất hiện theo.
Nguồn: Biện Giải Tâm Pháp
Hòa thượng Saddhammajotika
(Thích Huyễn Đạt dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.© www.tudieu.de