CẬN ĐỊNH
Những tâm định dục giới sơ khởi ban đầu cho đến Thủ trì tướng vẫn là giai đoạn chuẩn bị tiến đạt. Kể từ lúc Tương tự tướng hiện khởi cho đến Thiền chứng, giai đoạn này được gọi là cận hành tiến đạt hay cận định. Tâm định lúc này có khả năng áp chế những pháp triền cái (
Nīvaraṇa) sau đây:
- Dục dục cái (Kāmachandanīvaraṇa) – sự tham muốn trong cảnh dục.
- Sân độc cái (Byāpādanīvaraṇa) – bị nóng nảy, cuồng nộ.
- Hôn thụy cái (Thīnamiddhanīvaraṇa) – dã dượi, nguồn ngủ.
- Trạo hối cái (Uddhaccakukkuccanīvaraṇa) – phóng đãng, hối hận.
- Hoài nghi cái (Vicikicchānīvaraṇa) – sự ngờ vực đối với người hướng dẫn hoặc phương pháp hành trì.
Giai đoạn này, vô minh cái (
avijjānīvaraṇa) cùng các phiền não khác cũng được giảm nhẹ.
Hành giả đạt đến Tương tự tướng thời sau đó không lâu, nếu là người lợi căn, sẽ chứng đạt kiên cố định hay kiên cố tiến đạt, đó là tầng thiền thứ nhất: Sơ Thiền Sắc giới. Riêng người độn căn, thời gian đạt đến Thiền chứng có phần chậm hơn. Nhưng dù với hành giả nào lợi căn hay độn căn, khi gần đến lãnh vực Thiền chứng, nghĩa là ở giai đoạn tâm định cận hành, hành giả cần phải khéo duy trì, gìn giữ Tương tự tướng. Cũng giống như sự bảo vệ thai bào của Hoàng Hậu, khi các nhà tiên tri cho biết rằng đứa bé sau này sẽ là Chuyển Luân Vương. Nếu không được duy trì chấp giữ thời Tương tự tướng sẽ hoại đi và cả tâm định cận hành tiến đạt cũng không còn nữa, chỉ là những tâm định trong khả năng chuẩn bị, tức là giai đoạn ban đầu.
Trong Visuddhimagga, Ngài Buddhaghosa viết đoạn này:
“Nimittaṃ rakkhato laddha Parihāni va vijjati Ārakkhamhi asantamhi Laddhaṃ laddhaṃ vinassati”
“Tâm định được tồn tại khi ấn tướng còn được duy trì. Nếu ấn tướng mất đi, tâm định cũng không còn nữa”.
Để duy trì Tương tự tướng lâu dài, hành giả cần tránh những điều không thích hợp sau đây:
- Āvāsa: Trú xứ.
- Gocara: Sự đi lại.
- Bhassa: Khẩu hành.
- Puggala: Nhân tính.
- Bhojana: Vật thực.
- Utu: Thời tiết.
- Iriyāpātha: Các oai nghi.
1.
Trú xứ
- Những nơi nào các ấn tướng chưa sanh không thể sanh khởi, nếu đã sanh rồi mà bị tiêu hoại, gián đoạn. Hay chánh niệm chưa sanh không sanh khởi, bằng như đã sanh rồi mà bị hoại đi,
tán tâm. Aáy không phải là trú xứ thích hợp cho hành giả.
- Với trú xứ nào, các ấn tướng, chánh niệm chưa sanh thời sanh khởi, đã sanh được tăng trưởng lớn mạnh. Trú xứ ấy thích hợp cho vị hành giả.
Suy xét những điều trên, hành giả tìm trú xứ thích hợp.
2.
Sự đi lại
Những nơi bất tiện cho sự đi lại:
- Trú xứ đối hướng với xóm làng nằm ở hướng đông hoặc hướng tây, nắng mặt trời sẽ rọi khi đi khất thực hoặc lúc trở về.
- Trú xứ cách xóm làng quá ba dặm (5km) và đường đi trắc trở khó khăn.
- Những nơi khất thực khó khăn, khó khăn vì thiếu vật thực.
Trú xứ thuận tiện cho việc đi lại:
- Xóm làng ở hướng nam hoặc hướng bắc đối hướng với trú xứ.
- Trú xứ không xa hơn ba dặm.
- Khất thực dễ dàng.
3.
Khẩu hành
Hành giả cần tránh những câu chuyện vô ích sau:
- Rājakathā: Nói về vua chúa, quyến thuộc... của Hoàng tộc.
- Corakathā: Chuyện về trộm cướp.
- Mahāmatta: Chuyện về các quan đại thần, quan lại.
- Senākathā: Chuyện về quân lính.
- Bhayakathā: Chuyện về những sự kinh sợ.
- Yuddhakathā: Chuyện về chiến sự.
- Annakathā: Chuyện về vật thực, thức ăn.
- Pānakathā: Chuyện thức uống.
- Vatthakathā: Chuyện vải mặc.
- Sayanakathā: Chuyện sàng tọa.
- Mālākathā: Chuyện vòng hoa.
- Gandhakathā: Chuyện hương thơm.
- Ñātikathā: Chuyện quyến thộc.
- Yānakathā: Chuyện xe giá.
- Gāmakathā: Chuyện làng mạc.
- Nigamakathā: Chuyện thị trấn.
- Nagarakathā: Chuyện đô thị.
- Janapadakatha: Chuyện quốc độ.
- Itthikatha: Chuyện về nữ nhân.
- Purisakathā: Chuyện về nam nhân.
- Surabhakathā: Chuyện về dũng cảm.
- Visikhākathā: Câu chuyện bên đường.
- Kumbhaṭhānakathā: Câu chuyện bến nước.
- Pubbapetakatha: Chuyện về vong nhân.
- Nānattakathā: Câu chuyện không mục đích.
- Lokakkhāyikakathā: Chuyện về vũ trụ. Ai là
- Samuddakkhāyikakathā: Chuyện về biển cả.
- Itibhavābhavakathā: Chuyện hưng thịnh và suy vong.
- Arađđakathā: Chuyện rừng.
- Pabbatakathā: Chuyện núi.
- Nadīkathā: Chuyện sông ngòi.
- Dīpakathā: Chuyện hải đảo.
Những điều trên đây, đôi khi cũng là điều lợi ích, nhưng chỉ lợi ích về thế gian. Riêng việc tu chứng không giúp được gì cả. Chỉ là sự trở ngại cần phải tránh. Bậc Đạo Sư thuyết rằng: “Những lời phù phiếm vô ích là một trở ngại cho sự tu tập, nó chỉ đem lại những kết quả khổ đau”.
Tuy nhiên nếu nói về một vua hùng mạnh, một đạo sĩ đại thần lực hay một người đầy sức mạnh uy quyền nào đó, để ý thức rằng rồi tất cả phải theo một quy luật tử sinh. Như thế thì vẫn nên. Hãy dùng những mẩu chuyện này để so sánh, ví dụ cho một lý pháp thì vẫn là điều lợi ích. Ngoài ra, trong ý nghĩa bông đùa, lãng phí, mua vui là điều cần phải tránh. Vả lại nữa, hành giả không nên dự tranh bằng những lời tranh tụng (viggāhitakathā) sau:
- Na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi:
Ngài không hiểu biết gì về Pháp Luật này.
- Ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi:
Chính tôi là người hiểu biết Pháp Luật này.
- Kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi:
Ngài hiểu biết Pháp Luật này như thế nào?
- Micchāpaṭipanno tavamasi:
Ngài chính là người thực hành sai lầm.
- Ahamasmiṃ sammāpaṭipanno:
Tôi đây mới là người thực hành chín chắn.
- Sahitaṃ me:
Tôi không mâu thuẫn giữa lời nói trước và sau, lời nói tôi mới đem lại lợi ích.
- Asahitaṃ te:
Lời nói trước đã mâu thuẫn với lời nói sau của Ngài. Lời nói của Ngài chỉ vô ích.
- Purecacaniyaṃ pacchā avaca:
Lời đáng nói trước Ngài lại nói sau.
- Pacchāvacaniyaṃ pure avaca:
Lời đáng nói sau Ngài lại nói trước.
- Adhiciṇṇante viparāvattaṃ:
Lời nói của Ngài đã bị đánh đổ.
- Aropito te vāda:
Lời nói của Ngài đã bị thách thức.
- Niggahi to tavamasi:
Ngài đã bị đánh bại.
- Cara vādapamokkhāya:
Ngài hãy giải tỏa tri kiến.
- Nibbethehi vā sace pahosi:
Nếu được bây giờ, Ngài hãy tự thoát khỏi sai lầm.
Dù ở trường hợp nào, trong thời gian nào tránh những điều tranh tụng trên đây vẫn là điều hữu ích đối với Pháp học và Pháp hành và cả lẽ sống thế gian. Một là nó đánh mất sự tốt đẹp, sự tiến hóa cho chính mình. Thứ hai là sự mất hòa hợp tập thể hội chúng. Và sau cùng là cho kết quả sanh thú đời sau khổ đau.
Những khẩu hành nào không chắn lối, không ngăn chặn Đạo, Quả và Níp Bàn, những khẩu hành ấy được gọi là những khẩu hành tốt đẹp thích hợp (Bhassasappāya) hay là 10
kathāvatthu sau đây:
- Apicchatākathaṃ: Nói về thiểu dục.
- Santuṭṭhikathaṃ: Nói về tri túc.
- Pavivekakathaṃ: Nói về tịch tịnh (sự yên lặng của thân, khẩu và ý).
- Asaṃsaggakathaṃ: Nói về không hệ lụy dục phược (kāmaguṇa)
- Viriyārambhakathaṃ: Nói về sự chuyên cần.
- Sīlakathaṃ: Nói về giới.
- Samādhikathaṃ: Nói về định.
- Pađđākathaṃ: Nói về tuệ.
- Vimuttikathaṃ: Nói về giải thoát (giải thoát ở đây chỉ cho tâm Tứ quả).
- Vimuttiđāṇadassanakathaṃ: Nói về tri kiến giải thoát
(trí phản kháng tâm Tứ quả và Níp Bàn).
Mặc dù như đã nói, mười kathāvatthu trên là những điều thích hợp, không ngăn lối Đạ, Quả, Níp Bàn. Tuy nhiên đối với vị hành giả ở giai đoạn này cũng không nên luận bàn quá nhiều, chỉ nên ở mức giới hạn vừa đủ. Vì hành giả cần phải duy trì tâm định và Tương tự tướng để khỏi hư hoại, gián đoạn. Các Ngài A Xà Lê bảo rằng:
Tampi mattāya bhāsitabbaṃ: Dầu là điều đáng nói, nhưng chỉ nên ở mức giới hạn.
4.
Nhân tính
Vị hành giả khi đang tu tập, có hai hạng người này không nên giao du vì mục đích hội ý, luận bàn:
- Kāyadaḷhībahulo: Người tính ưa thích đỏm dáng, hay bận tâm chăm sóc về ngoại hình.
- Tiracchānakathiko: Ưa thích phiếm luận vô ích.
Và có hai hạng người hành giả nên thân cận để trao đổi, luận bàn (nếu thấy cần):
- Atiracchānakathiko: Không nói lời vô ích, phù phiếm.
- Sīlādiguṇasampanno: Đầy đủ giới đức, định đức và tuệ đức.
5.
Vật thực
Tùy hành giả mà sự thích nghi vật thực khác nhau. Có hành giả không mấy thích nghi với những vật thực mang vị béo ngọt và điều này có thể dẫn đến sự không vừa lòng, hành giả dễ bị tán tâm lúc hành trì. Riêng những vật thực mang vị chua, hành giả lại vừa lòng hơn, tâm không bị chi phối vì phản ứng của vật thực. Đối với hành giả này, những vật mang vị chua là những vật thực thích hợp. Ngược lại có những hành giả ưa thích vật thực ngọt, không thích hợp với vật thực chua, thì đối với hành giả này vật thực ngọt là thích hợp. Riêng những vị đắng, mặn, chát, cay không nói ở đây, vì những vị này dùng để pha lẫn hai vị trên và không tùy thuộc sở thích cá biệt.
6.
Thời tiết
(
Utu-asappaya vā utsappāya)
Trong thời tiết nóng bức, nếu hành giả cảm thấy bức xúc, khó chịu, tâm không được định tĩnh, đình trụ hay tâm đã định tĩnh bị phóng đãng, chi phối. Thời tiết như vậy là không thích hợp với hành giả. Nhưng nếu ở thời tiết lạnh mát mà hành giả cảm thấy dễ chịu, thoải mái, tâm vững trú, yên tịnh hay tâm phóng đãng mông lung được an trú, lắng đọng, thời tiết như vậy là thích hợp với hành giả.
Nhưng ngược lại, có những hành giả trong thời tiết nóng cảm thấy dễ chịu, tâm được định tĩnh, an trú, thì với thời tiết này thích hợp cho vị hành giả. Nếu ở thời tiết lạnh, bị phóng đãng, tán tâm, khó an trụ, thì như vậy thời tiết này không thích hợp cho vị hành giả ấy.
7.
Các oai nghi
Trong các oai nghi, tùy hành giả mà có một oai nghi thích hợp. Có vị hành giả khi thực hành trong oai nghi nằm sẽ bị hôn trầm, dã dượi, tất nhiên không đạt kết quả gì, nhưng nếu ở oai
nghi khác vị này cảm thấy thân, tâm thích hợp và tỉnh thức hơn, không bị các triền cái chi phối. Ngược lại, có hành giả thích hợp trong oai nghi nằm hơn là các oai nghi khác. Có hành giả thích hợp với oai nghi đi hoặc nằm nhưng không thích hợp trong oai nghi ngồi hoặc đứng. Có hành giả ngược lại điều này... Nhưng tựu trung những oai nghi nào mà hành giả cảm thấy dã dượi, hôn trầm, tâm phóng túng, giao động, không đem lại kết quả hành trì, oai nghi ấy là không thích hợp với vị hành giả. Oai nghi nào làm cho tâm được yên tịnh, sáng suốt, lắng đọng các triền cái, oai nghi ấy là thích hợp với vị hành giả.
Hành giả nên tìm oai nghi thích hợp trong các oai nghi này.
Khi đã đạt đến khả năng Tương tự tướng, hành giả cần tránh bảy điều bất hợp (
asappāya) và khuôn theo những điều thích hợp như đã nói. Từ đó không bao lâu sẽ đạt đến Thiền chứng tức tầng thiền Sắc giới thứ nhất. Nếu vẫn chưa đạt đến tầng thiền này, hành giả cần bổ túc 10
appanākosalla như sau:
- Vatthuvisadakariyatā: Nên làm những việc vệ sinh cá nhân (thân thể, y phục...)
- Indriyasamattapaṭipādanatā: Quân bình ngũ quyền: tín tương đồng với tuệ, cần tương đồng với định. Riêng về niệm quyền phải được lớn mạnh hơn cả, vì chính chánh niệm nâng đỡ các hiện pháp, không thể tâm rơi vào triền cái.
- Nimittakusalatā: Thiện xảo trong việc bảo tồn ấn tướng và duy trì tâm định vững trú.
- Cittapaggaho: Khi tâm buồn chán, lùi sụt do tịnh giác chi, định giác chi và xả giác chi. Khi ấy cần phát triển lớn mạnh đối với những giác chi trạch pháp, cần và hỷ giác chi.
- Cittaniggaho: Khi phóng đãng, tán tâm do ba giác chi cần, hỷ và trạch pháp giác chi. Bấy giờ cần phát triển khinh an, định và xả giác chi.
- Cittasampasaṃho: Khi tâm thối thất chán nản trong việc hành trì, hành giả nên phát triển lòng tin với việc tu tập bằng cách suy quán về tám kinh động (saṃvegavatthu 11) và niệm tưởng đến ân đức Tam Bảo.
- Citta-ajjupakkho: Cần giữ tâm quân bình, tĩnh lặng, khi không còn chán nản, thụ động hay phóng đãng, tâm thiếu định tĩnh, tán động.
- Asamāhitapuggalaparivajjanaṃ: Tránh những người phóng đãng, tâm thiếu định tĩnh, tán động.
- Samāhitapuggalasevanaṃ: Thân cận những người tu tập thiền định.
- Tadadhimutti: Chuyên cần duy trì Tương tự tướng tức nhân cần thiết dẫn đến Thiền chứng, không gián đoạn.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de