NHẬN ĐỊNH VỀ THIỀN CHỨNG
Trong lộ đắc thiền, các đổng lực Dục giới: chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc cùng đổng lực kiên cố đều lấy cảnh là Tương tự tướng như nhau. Song, các đổng lực dục giới chưa có khả năng áp chế dục cái (
kāmataṇhā), tâm định chưa đến mức dũng mãnh hay còn yếu kém. Trong khi ấy, mặc dầu đổng lực kiên cố tức Sơ thiền Sắc giới sanh khởi chỉ một lần, nhưng khả năng tâm định đầy đủ năm chi thiền này vẫn đủ sức áp chế, tịnh chỉ dục ái.
Sức vững chắc của đinh đóng vào thân gỗ như thế nào, sự vững trú của tâm sơ thiền vào cảnh án xứ cũng như thế ấy. Bất động và chắc chắn. Dựa vào đó mà hành giả tự biết ta đã đạt Thiền chứng. Riêng việc tác hiểu được hay không còn tùy vào khả năng học hỏi Thắng Pháp (
abhidhamma) của mỗi hành giả.
Giai đoạn tầng thiền thứ nhất đến các tầng thiền cao Tư (
cetanā) trong Sơ thiền thiện này không có dục ái (
kāmataṇhā) hay những vui thích trong ngũ dục (
kāmaguṇa), do đó không cho kết quả tái sanh trong dục giới, nhưng vẫn còn đối với sắc giới và đây cũng là lý do tâm này được gọi là rūpāvacaracitta. Đối với sự hành trì để đạt đến các tầng thiền cao hơn, điều cơ bản đầu tiên hành giả nên nhập định trong suốt thời gian từ một đến bảy ngày, các đổng lực sơ thiền thiện sanh tiếp nối liên tục để trau dồi sức mạnh cho tâm định và làm nền tảng cho năm khả năng (
vasībhāva) thiền định. Khả năng này chính là nhân tố quan yếu cho sự phát triển các tầng thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư và cả tầng thiền sắc giới sau cùng, nếu không hành giả cũng không thể đạt đến các tầng thiền cao hơn và khả năng này chỉ thành tựu khi tâm định đã dũng mãnh, các đổng lực Sơ thiền có thể an trú trong suốt thời gian từ một đến bảy ngày.
Để duy trì thời gian các đổng lực Sơ thiền sanh khởi liên tục như thế, hành giả đầu tiên chú mục vào Tương tự tướng, vì khi Tương tự tướng được chú mục thì lẽ tất nhiên tâm thiền cũng cùng hiện khởi trong tâm lộ ấy, tối thiểu phải là một hay hai hoặc ba sát na rồi đến hữu phần. Khi hành giả biết rằng tâm thiền không còn tiếp nối nữa, ngay lúc ấy hành giả cần phải tiếp tục chú mục Tương tự tướng để tâm thiền sanh khởi trở lại. Đừng bao giờ hướng tâm nghĩ về chuyện khác, hãy luôn tinh cần an trú thiền định tức tầng thiền thứ nhất đã chứng, chớ nên làm gián đoạn hay hư hoại đi, để trau dồi tâm định thêm vững trú. Trong thời gian mà sức mạnh tinh cần chưa thể an trú một hay hai ngày... Bấy giờ hành giả cũng chớ nên suy quán đến các chi thiền (tầm, tứ...) quá nhiều chỉ nên chú mục vào Tương tự tướng để an trú tầng thiền thứ nhất. Vì các chi thiền trong lúc ấy sanh khởi một cách thô thiển và yếu ớt, nếu quán xét như thế sẽ làm cho chi thiền lùi sụt, suy kém và đương nhiên tầng thiền thứ hai không thể sanh khởi.
Khi tầng thiền thứ nhất được an trú trong suốt thời gian bảy ngày, tiếp theo đó hành giả nên làm phát khởi năm khả năng (
vasībhāva) sau đây, cho đến khi tinh thục:
Tiếng
vasībhāva được giải thích rằng:
Vasanaṃ samatthanaṃ = vaso, vaso yassa atthīti = vasī: Khả năng được gọi là
vasa. Người có vasa được gọi là
vasī.
Vasino bhāvo = vasībhāvo: Sự trở thành người có khả năng được gọi là
vasībhāva.
Vasī có năm là:
- Āvajjanavasī: Khả năng quán xét chi thiền trong khai ý môn.
- Samāpajjanavasī: Khả năng nhập định.
- Adhiṭṭhānavasī: Khả năng ấn định thời gian nhập định.
- Vuṭṭhānavasī: Khả năng ấn định thời gian xuất.
- Paccavekkhaṇavasī: Khả năng quán xét chi thiền trong giai đoạn đổng lực.
Làm thành tựu năm khả năng này gọi là vasībhāva.
1.
Āvajjanavasībhāva
“Āvajjane vasībhāvo = āvajjanavasibhāvo” Sự quán xét các chi thiền được làm thành khả năng cho vị hành giả. Sự trở thành này được gọi là
āvajjanavasībhāva.
Vị hành giả nhập sơ thiền, sau khi xuất định, quán xét đến năm chi thiền: tầm, tứ, hỷ, lạc và định theo mỗi phần riêng biệt bằng bốn hoặc năm đổng lực đại thiện, tùy lợi căn hay độn căn. Dứt tâm lộ này, kế đến là hai hữu phần rúng động (
bhavaṅgacalama) và dứt dòng (
bhavaṅgupaccheda), rồi tiếp theo là khai ý môn, sau đó là bốn hoặc năm đổng lực như giai đoạn trên. Như thế gọi là āvajjanavasībhāva.
Nhưng khả năng xen hai hữu phần giữa hai tâm lộ trên chỉ có đối với Đức Phật và hai vị Chí Thượng Thinh Văn. Riêng những người khác thì cần đến bốn hoặc năm hữu phần. Song, như
thế cũng đã là āvajjanavasībhāva.
2.
Samāpajjanavasībhāva
“Samāpajjane vasībhāvo = Samāpajjanavasībhāvo”
Làm trở thành khả năng nhập định thì gọi là
samāpajjanavasībhāva.
Nghĩa là khi hành giả muốn nhập thiền, thời sau khoảnh khắc cần thiết, chú mục Tương tự tướng, hữu phần tâm sẽ khởi lên hai sát na rúng động và dứt dòng, rồi tiếp đến là khai ý môn (
manodvārāvajjana), chuẩn bị (
parikamma), cận hành (
upacāra), thuận thứ (
anuloma), chuyển tộc (
gotrabhū) (hay sẽ là cận hành, thuận thứ, chuyển tộc) và sau đó là tâm thiền bất định số. Như vậy gọi là Samāpajjanavasībhāva. Nhưng trường hợp này chỉ đối với Đức Phật và hai vị Thượng Thinh Văn, riêng những người khác thì phải đến bốn hoặc năm hữu phần tâm, rồi mới khai ý môn... Song, như vậy cũng là samāpajjanavasībhāva.
3.
Adhiṭṭhānavasībhāva
“Bhavaṅgaṃ abhibhuyya jhānaṃ ṭhapanaṃ = adhiṭṭhānaṃ”.
Sự tiếp nối liên tục các tâm thiền không xen hữu phần, thì gọi là adhiṭṭha.
“Adhiṭṭhāne vasībhāvo = Adhiṭṭhānavasībhāvo”
làm thành khả năng adhiṭṭhāna, gọi là adhiṭṭhānavasībhāva.
Sự tiếp nối liên tục các tâm thiền không gián đoạn, ấy gọi là nhập thiền. Các tâm thiền gián đoạn bởi các hữu phần tiếp nối, thì gọi là xuất thiền. Khi vị hành giả muốn nhập thiền trong một thời gian nhất định nào đó, các tâm thiền sẽ sanh khởi liên tục trong suốt thời gian mà hành giả ấn định. Trở thành khả năng như thế gọi là adhiṭṭhānavasībhāva.
4.
Vuṭṭhānavasībhāva
“Vuṭṭhāne vasībhāvo = vuṭṭhānavasībhavo”
Xuất định tự tại theo thời gian ấn định, trở thành một khả năng của vị hành giả. Được gọi là
Vuṭṭhānavasībhāva.
Vị hành giả hướng tâm đến thời gian nào đó xuất định. Vị này sẽ xuất định với thời gian không hơn không kém. Làm thành khả năng này được gọi là
Vuṭṭhānavasībhāva.
Cần phân biệt hai điều trên. Adhiṭṭhānavasībhāva là khả năng an trú tâm thiền trong thời gian đã ấn định không hơn không kém. Vuṭṭhānavasī là khả năng giới hạn tâm thiền đúng thời gian ấn định không hơn.
5.
Paccavekkhaṇavasībhāva
“Paccavekkhaṇe vasībhāvo = Paccavekkhaṇavasībhāvo”
Sự quán xét các chi thiền được vị hành giả làm thành khả năng.
Như thế gọi là
paccavekkhaṇavasībhāva.
Sau khi xuất thiền, vị hành giả quán xét đến năm chi thiền bằng bốn hoặc năm đổng lực phản kháng (
paccavekkhaṇajavana), và giữa hai tâm lộ này (nhập thiền và phản kháng) sẽ được nối tiếp bằng hai hữu phần rúng động và dứt dòng. Hành giả làm thành khả năng này được gọi là Paccavekkhaṇavasībhāva. Nhưng khả năng này cũng như hai điều đầu tiên tức là chỉ đối với Đức Phật và hai vị Thượng Thủ Thinh Văn. Riêng những người khác thì phải đòi hỏi bốn hoặc năm hữu phần tâm làm trung gian giữa hai tâm lộ. Và đây cũng là Paccavekkhaṇavasībhāva nếu được hành giả làm thành khả năng.
Như vậy khi đạt đến khả năng āvajjanavasībhāva cũng có nghĩa là đã thành tựu khả năng paccavekkhaṇavasībhāva. Sở dĩ như thế là tùy vào mỗi giai đoạn mà có một cách gọi tên. Khả năng quán xét trong giai đoạn khai ý môn gọi là āvajjanavasī, khả năng quán xét trong giai đoạn đổng lực thì gọi là paccavekkhaṇavasī. Chỉ là như vậy.
Giai đoạn hành trì sau cùng để đạt tầng thiền thứ hai Khi đã thuần thục năm khả năng (
vasī) trên. Tiếp đến hành giả an trú vào tầng thiền thứ nhất, khi xuất định, hành giả nên suy quán rằng: “Tầng thiền này vẫn còn gần với triền cái (
nīvaraṇa) chi thiền Tầm vẫn còn thô thiển, làm hạn chế sức mạnh của chi thiền khác và làm tâm định yếu kém đi. Các triền cái vốn đã bị áp chế sẽ dễ dàng tái hiện và làm suy yếu tầng Sơ thiền này. Ngược lại, tầng thiền thứ hai vượt xa các triền cái. Những chi thiền cũng tế nhị, tinh tế hơn”.
Suy xét như thế cho đến khi đã nhàm chán đối với Sơ thiền, không còn ái chấp nữa. Từ đó, hành giả chú mục vào Tương tự tướng bằng các tâm tiến đạt (
bhāvanācitta), nhưng chỉ là ly tâm tiến đạt (
vitakkavirāgabhāvanā), tức khi chú mục, hành giả tác niệm “đất, đất...” để chứng tầng thiền thứ hai ấy. Tâm tiến đạt này gọi là Chuẩn bị tiến đạt (
parikammabhāvanā) và lấy cảnh là Tương tự tướng. Khác với chuẩn bị tiến đạt ở giai đoạn tiến đến Sơ thiền, lấy chuẩn bị tướng và Thủ trì tướng làm cảnh.
Hành giả chú mục và tác niệm như thế. Nếu cần biết rằng đã gần đến lãnh vực Kiên Cố tiến đạt tức tầng thiền thứ hai hay chưa? Vị hành giả nhập Sơ thiền, xuất tầng thiền này, quán xét về mỗi chi thiền. Bấy giờ, nếu hành giả nhận thức: Chi thiền tầm này quả là thô thiển, sơ thô. Và cũng thấy rằng các chi thiền kia tế nhị và tinh tế. Tức hành giả đã đạt đến cận hành tiến đạt. Ngược lại nhận thức này, tức hành giả vẫn còn là giai đoạn chuẩn bị. Nên chuyên cần để đạt đến khả năng cao hơn.
Đạt đến khả năng cận hành tiến đạt, sẽ không bao lâu, nếu không vì thiếu tinh cần hành giả sẽ chứng tầng thiền thứ hai với tiến trình như sau: Đầu tiên là những hữu phần tâm rúng động, dứt dòng, theo đó là khai ý môn, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc và rồi Thiền chứng: tâm Nhị thiền sắc giới. Sau một sát na tâm này là kế tục hữu phần. Tiếp đó là lộ phản kháng trong nhiệm vụ xem xét bốn chi thiền đã chứng, và hành giả đã đạt đến tầng thiền thứ hai.
Phương thức hành trì bước đầu và sau cùng để đạt đến các tầng thiền thứ ba, thứ tư, thứ năm cũng giống như giai đoạn tầng thiền thứ nhất đến tầng thiền thứ hai, khác nhau chỉ là sự suy xét về chướng ngại của các chi thiền thô thiển. Tiến trình này sẽ được khiết hóa theo từng cấp bậc Thiền chứng, nghĩa là để đạt đến tầng thiền thứ ba vị hành giả loại bỏ tứ (
vacāra), an trú vào hỷ (
pīti), lạc (
sukha) và định (
ekaggatā), tiếp theo loại bỏ hỷ, an trú vào lạc và định để chứng tầng thiền thứ tư. Sau cùng, loại bỏ lạc, an trú vào xả (
upekkhā) và định (
ekaggatā) để chứng tầng thiền thứ năm.
Quá trình tu chứng trên đây là nói về người độn căn (
mandapuggala) vì trí tuệ của người này không thể trong cùng một lúc loại bỏ cả hai chi thiền tầm, tứ. Riêng về người lợi căn (
tikkhapuggala) ở giai đoạn tiến đạt tầng thiền thứ hai, nhờ trí tuệ nhạy bén có khả năng suy xét chướng ngại của hai chi thiền tầm và tứ cùng một lúc để khi chú mục Tương tự tướng với tầm tiến đạt (
bhāvanācitta) ly tầm, ly tứ. Rồi hành giả này chứng tầng thiền thứ hai, có ba chi thiền hỷ, lạc, định. Tiếp đến, loại bỏ hỷ và chứng đạt tầng thiền thứ ba với các chi thiền lạc, định. Rồi tiếp theo đó loại bỏ lạc để chứng tầng thiền thứ tư cũng với hai chi thiền nhưng là xả và định.
Đây chính là lý do mà tầng thiền Sắc giới được tính theo bốn, tức là tính theo quá trình tu chứng của người lợi căn.
Ở trình độ tầng thiền thứ năm (tức là tầng thiền thứ tư đối với người lợi căn), những hành giả nào đã từng vun trồng pháp độ (
pāramī), đã từng chứng đắc thần thông (
abhiññā) trong các sanh hữu kế cận đời hiện tại hay từng làm những việc công đức như bố thí, trì giới... trong quá khứ để mong chứng đắc thần thông trong các sanh hữu về sau. Thì với những người này, sau khi chứng đạt tầng thiền thứ năm, trí tuệ vốn có cùng với tâm thiền này sẽ trở thành một khả năng đặc thù hay còn gọi là thần thông (
abhiññā) và có thể hiện thông với bất kỳ thời gian nào tùy thích.
Còn riêng với những người thông thường, cần phải tiến triển thêm cho đến bốn tầng thiền Vô sắc cùng sự tinh thục năm vasī (khả năng). Nghĩa là phải trải qua chín hoặc tám giai đoạn Thiền chứng Sắc Giới và vô sắc giới, khả năng thần thông mới hiển lộ.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de