TU TẬP THIỀN TẦNG VÔ SẮC
Bước đầu thực hành để đạt tầng thiền vô sắc không vô biên xứ, vị hành giả đã đắc ngũ thiền cần làm cho đổng lực tâm thiền này được dũng mãnh, bằng cách làm sanh khởi tiếp nối liên tục cùng sự tinh thục năm khả năng thiền chứng (
vasībhāva) đối với ngũ thiền, cũng giống như giai đoạn thực hành tiến đến tầng thiền thứ hai, khác nhau chỉ là trước khi trau dồi năm khả năng Thiền chứng, vị hành giả suy xét tùy theo hai điểm thời gian:
- Trong thời gian không Phật Giáo.
- Trong thời gian có Phật Giáo.
Ở thời gian không Phật Giáo, vị hành giả suy quán: “Thân này chính là cội nguồn của những cuộc tương tàn, là nơi nương náu của những bệnh tật, của những đói khát, là môi sinh của những luyến ái, là một tổng thể ô trược được dung hợp bởi những tinh huyết nam nữ. Trái hẳn những điều này, các tầng trời Vô sắc không tùy thuộc bản thân, không lệ thuộc điều kiện của nó. Mọi bức xúc thân thể tại đây không còn nữa, chỉ còn mỗi một tâm thức và chính là hạnh phúc”.
Suy xét như thế hành giả cảm thấy nhàm chán với thân này, muốn được tái sanh về Vô sắc. Đồng thời cũng nhàm chán với cảnh ngũ thiền tức Tương tự tướng, vì cảnh này chính là hình ảnh thoát thai từ một hình tượng cụ thể. Cũng như một người có tính tình nhút nhát, thường hay lo sợ về ma quỉ. Tình cờ trong đêm tối họ gặp bóng mờ của bụi cây. Bản năng yếu đuối đã làm cho họ sợ nó. Điều này tương tự trường hợp trên.
Một đoạn kệ ghi rằng:
“Yathā pisāca bhīruko Rattiṃ khāṇumpi bhāyati
Evaṃ karajabhīruko Yogī kasiṇarūpakaṃ”
Trong đêm tối trụ cây làm cho những người nhút nhát nảy sinh sợ hãi. Cũng vậy, vị hành giả nhàm chán với thân này, đối với hình ảnh sắc án xứ cũng là vật để nhàm chán.
Riêng ở thời kỳ Phật giáo, hành giả không suy quán như thế mà xét rằng: “Định từ Thiền Vô sắc ấy vô cùng mãnh liệt và dũng mãnh so với tầng thiền Sắc giới này. Chính tại đấy khả năng thần thông được khởi hiện”.
Nếu là những vị A Na Hàm hoặc A La Hán quả, khi còn nhập thiền diệt (
nirodhasamāpatti) để được hiện tại lạc trú, một trạng thái an lạc tương đương Vô Dư Níp Bàn (
anupādisesanibbāna). Khi ấy các Ngài cũng sẽ hành trì các tầng thiền Vô sắc này.
Việc thực hành đầu tiên để đạt các tầng thiền Vô sắc vẫn phải là tinh thục năm khả năng Thiền chứng. Rồi sau đó vào thời điểm cuối của giai đoạn này, khi vừa xuất tầng thiền thứ năm, nếu thấy rằng hình thế (
parimaṇḍala) Tương tự tướng còn quá nhỏ hẹp, thấy cần, hành giả cũng nên làm lớn rộng thêm nữa bằng sức mạnh tâm định đã có của mình. Còn như đã rộng lớn cần thu hẹp nhỏ hơn thì tối thiểu phải bằng kích thước một gang bốn ngón tay, chứ không nên quá nhỏ. Nếu cảm thấy đã vừa chừng, thì không cần phải thu hẹp hay mở rộng kích thước án xứ thêm. Kế đến vẫn an trú vào án xứ, Tương tự tướng sẽ hiện khởi, nhưng khác những giai đoạn ban đầu, đối với Tương tự tướng hành giả thay vì chấp giữ, lại hướng đến xuất ly và chuyên cần làm hiển lộ hư không giả định (
ākāsapaññatti) bằng sự suy quán: “Không thật sự có một địa đại Tương tự tướng nào. Hư cảnh ấy chỉ là khoảng không”. Rồi hành giả tác niệm
ākāso ananto (hư không vô cùng tận).
Qua thời gian chuyên cần như thế, khi tâm không còn ái chấp đối với tầng thiền thứ năm nữa tức lúc ấy hành giả đã đạt đến cận hành tiến đạt của giai đoạn này. Sau đó không lâu, địa đại Tương tự tướng sẽ hoại đi và chỉ còn lại một khoảng không với kích thước bằng Tương tự tướng đã mất, cũng như tấm màn sau khi gió cuốn đi người ta chỉ còn nhìn thấy khoảng trống không mà trước đó là vị trí của tấm màn. Và kích thước khoảng không này cũng bằng như kích thước tấm màn chiếm chỗ. Sự mất đi của Tương tự tướng cũng thế, khác với tấm trải sau khi cuốn lại còn lại mặt nền bị che, hay vật thực khi bị đổ ra còn lại là chiếc đĩa. Có nghĩa là vị hành giả chỉ không hướng tâm đến án xứ hoàn tịnh nữa (điều này khác với sự thay thế hình ảnh này bằng hình ảnh kia).
Một đoạn trích sau đây từ Visuddhimaggatthakathā:
“Kasiṇaṃ ugghāṭento so Na kilađjaṃ pūpaṃ pivā
Kevalaṃ tamanāvajjaṃ Ākāso iti ikkhati”
Vị hành giả từ bỏ án xứ hoàn tịnh, không giống như người ta cuốn cất tấm trải hay vứt bỏ bánh ngọt mà chỉ là không lưu tâm đến ấn tướng hoàn tịnh, để hướng tâm tác niệm hư không… Sở dĩ nói rằng
Ākāso ananto (hư không vô cùng) vì đây là cảnh hư không giả định chứ không phải là chơn đế cảnh. Đã là giả định thì không bao giờ có bắt đầu tức sự sanh khởi, cũng như không có điểm cuối cùng tức sự tiêu hoại, diệt tắt, lý do này mà được ananto – không cùng tận. Tuy nhiên hành giả chỉ tác niệm Ākāso hay ākāsaṃ anantaṃ thì vẫn là hợp lý.
Khi hành giả đã loại bỏ địa đại Tương tự tướng bấy giờ cảnh hư không chế định sẽ hiện khởi, đồng thời tâm Thiền Không vô biên xứ cùng với hai chi thiền cũng sanh khởi để tri nhận cảnh với tiến trình như sau: Đầu tiên là hai hữu phần rúng động (
bhavaṅgacadana) và dứt dòng (
bhavaṅgcheda), tiếp theo là khai ý môn, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc và tâm thiền Vô sắc giới thứ nhất Không vô biên xứ. Sau một sát na tâm này là một số hữu phần tâm sanh khởi làm trung gian cho lộ phản kháng chi thiền xả và định sanh tiếp theo. Giai đoạn này, hành giả đã chứng tầng thiền vô sắc thứ nhất Không vô biên xứ.
Có ba cách gọi tên cho tầng thiền này, một là tầng thiền Vô sắc, thứ hai là thiền Không vô biên xứ và thứ ba là Sơ thiền Vô sắc giới (
paṭhamārūpajhāna). Gọi là Thiền Vô sắc (
arūpajhāna) vì hành giả không lấy sắc làm cảnh, tức vị này loại bỏ Tương tự tướng và sau khi tâm thiền sanh khởi, tâm thiền này cũng không lấy sắc làm cảnh. Do đó tâm thiền này được gọi là tâm thiền vô sắc giới. Gọi thiền “Không vô biên xứ – ākāsānađcāyatana” vì đây là tâm thiền vững mạnh, bất động, sanh khởi từ hư không chế định, và cảnh này không có điểm đầu tiên và điểm cuối cùng là sự hoại diệt. “Do đó mà gọi là “Không vô biên xứ”. Gọi là “Sơ thiền Vô sắc giới” vì sau khi loại bỏ cảnh án xứ giả lập mang hình ảnh cụ thể (Tương tự tướng) kế đến là giai đoạn Thiền chứng này và cũng là tầng thiền thứ nhất trong bốn tầng thiền Vô sắc.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de