THỨC VÔ BIÊN XỨ
Phương thức hành trì đầu tiên và sau cùng để đạt tầng thiền thức vô biên xứ (Viññāṇañcāyatana)
Vị hành giả muốn phát triển đến tầng thiền cao hơn nữa, tức thức vô biên xứ. Nền tảng đầu tiên, vị hành giả cần trau dồi năm khả năng Thiền chứng đối với Không vô biên xứ đã chứng, cho đến khi đã hoàn toàn tinh thục. Sau đó, xuất Không vô biên xứ, hành giả suy quán những trở ngại của tầng thiền này: “Thiền Không vô biên xứ vẫn còn cận kề với ngũ thiền Sắc giới. Nếu không thường xuyên nhập định, thời tâm định sẽ yếu kém và hoại đi tức trở lui trạng thái Thiền Sắc giới như xưa. Riêng về tâm định thức vô biên xứ ấy dũng mãnh và vững mạnh hơn so với tâm định không vô biên xứ này”.
Khi xét như thế, hành giả hướng đến thức không vô biên xứ, tức lấy tâm thiền Không vô biên xứ mà trước đó đã diệt làm cảnh, vì giai đoạn này hành giả đã loại bỏ cảnh hư không giả định. Rồi tác niệm “viđđāṇaṃ anantaṃ hay viđđāṇaṃ thức không vô biên xứ vô biên” (tâm thiền Không vô biên xứ là vô tận cùng). Và như thế hành giả tu tập.
Đến khi nào tâm không còn ái chấp trong tầng thiền Không vô biên xứ, hành giả khi ấy đã đến giai đoạn cận hành. Thời gian không lâu sau đó, ấn tướng hư không giả định cũng không còn, và ngay lúc ấy ấn tướng được thay thế bằng tâm thiền Không vô biên xứ. Đồng thời tâm thiền thức vô biên cùng hai chi thiền: xả và định sanh khởi để tri nhận ấn tướng này với tiến trình hiện khởi như sau: Đầu tiên là các hữu phần rúng động và dứt dòng, kế đến khai ý môn, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc rồi tâm thiền thức Vô biên xứ. Sau một sát na tâm này, một vài tâm hữu phần kế tục sanh khởi làm trung gian cho lộ phản kháng chi thiền xả, định sanh tiếp theo sau đó. Hành giả đã đắc tầng thiền Vô sắc thứ hai: Thức vô biên xứ.
Điều trên chúng ta có thể thắc mắc, rằng tại sao vị hành giả đã xét thấy những trở ngại của thiền Không vô biên xứ, thế mà để phát triển tầng thiền cao hơn, vị hành giả lại phải hướng về tầng thiền trước đó? Vì rằng tâm thiền Thức vô biên xứ cần phải nhờ vào tâm thiền Không vô biên xứ trong vai trò là cảnh sở tri cũng như trường hợp cảnh thinh không thể thiếu đối với nhĩ thức.
Hay như một vị quan Đại Thần dầu biết Đức Vua là hôn quân, bạc ác mà phải kính lễ, phủ phục đúng như một bề tôi trung tín, chỉ là vì để dễ dàng trong việc tiến thân chức vị của mình. Lời ví dụ trên của các vị A Xà Lê, viết bằng nguyên văn sau đây:
Ālaṃbaṇaṃ karoteva Aññābhāvena taṃ idaṃ
Diṭṭhadosampi rājānaṃ Vutti hetu jano yathā
VÔ SỞ HỮU XỨ
Phương thức hành trì để đạt tầng thiền Vô sở hữu xứ Cũng giống như những giai đoạn trước, nghĩa là để phát triển thiền Vô sở hữu xứ, ban đầu hành giả tu tập năm khả năng thiền chứng (vasībhāva) đối với Thức vô biên xứ và phải đến khi thuần thục năm khả năng này, kế đến nhập Thức vô biên xứ, sau lúc xuất thiền nên xét rằng: thiền Thức vô biên xứ vẫn còn cận kề Không vô biên xứ, và hơn thế nữa là một sự đối nghịch nhau: khi không được thường xuyên nhập định, tầng thiền này có thể hoại đi và trở lại tầng thiền không vô biên xứ trước đây. Vả lại, định từ thiền Thức vô biên xứ vẫn là yếu kém đối với tâm định dũng mãnh Vô sở hữu xứ kia”.
Suy xét như thế, hành giả hướng tâm đến thiền Không vô biên xứ mà đã được diệt hoàn toàn dầu chỉ là một sát na tâm hữu phần. Rồi hành giả chuyên cần xuất ly Không vô biên xứ để thay thế vào đó là cảnh vô hữu giả định (natthibhāvapađđatti) bằng cách tu tập: Natthi kiñci, natthi kiñci (không gì cả...) tức nói đến sự hoàn toàn vắng mặt của thiền Không vô biên xứ, một sát na hữu phần cũng không còn lại, kể cả thời gian sinh, trụ, diệt của sát na tâm này).
Và vẫn như thế, hành giả hãy chuyên cần tu tập. Khi tâm không còn ái chấp đối với thiền Thức vô biên xứ, tức khi ấy hành giả đã đến giai đoạn cận hành. Từ đấy, không lâu hành giả sẽ đạt đến giai đoạn tiến đạt còn lại, cùng lúc này cảnh thiền Không vô biên xứ mà trước đó làm ấn tướng cho vị hành giả cũng không còn nữa. Cũng như một người đang trên đường đi, trước mặt họ gặp một nhóm Tăng đang tụ họp và họ đi qua, khi trở về cũng con đường ấy nhưng không gặp nhóm Tăng kia nữa. Vì sau khi tụ họp, chư Tăng đã ra đi và họ thấy rằng hiện tại chư Tăng đã bỏ đi, một vị còn lại cũng không, tương tự khi hành giả loại bỏ cảnh thiền Không vô biên xứ, ngay khi ấy cảnh vô hữu giả định sẽ được thay thế cùng tâm thiền Vô sở hữu xứ với hai chi thiền hiện khởi. Tiến trình này được diễn tiến như sau:
Đầu tiên là những hữu phần rúng động và dứt dòng, kế đến là khai ý môn, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc và một sát na tâm thiền Vô sở hữu xứ. Rồi tiếp theo là một số hữu phần tâm sanh khởi làm trung gian cho lộ phản kháng chi thiền xả và định sau đó. Giai đoạn này hành giả đã đắc tầng thiền Vô sắc thứ ba: Vô sở hữu xứ.
PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ
Phương thức tu chứng tầng thiền thứ tư: Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Để tu chứng tầng thiền Vô sắc thứ tư: Phi tưởng phi phi tưởng, cơ bản đầu tiên hành giả cần trau dồi năm khả năng thiền chứng đối với Vô sở hữu xứ và đến khi đã thuần thục năm vasī này. Sau đó, những khi xuất định, hành giả nên suy quán: “Tầng thiền này vẫn còn kề cận Thức vô biên xứ và hơn thế nữa là một sự đối lập nhau: khi tâm thiền này không được thường xuyên an trú sẽ bị suy yếu đi và trở lại khả năng tâm định trước đây Thức vô biên xứ. Vả lại, định từ Phi tưởng phi phi tưởng xứ kia, đối với tâm định này, mãnh liệt hơn dũng mãnh hơn. Các khía cạnh khác, mà tưởng (hay ký tính – saññā) là một, trong thiền Vô sở hữu xứ hãy còn thô thiển, thô sơ. Và đối với định điều đó là một trở ngại.
Ngược lại, những khía cạnh này, Tưởng là quan yếu, trong thiền Phi tưởng phi phi tưởng ấy cũng được tinh tế và khiết hóa hơn.
Chính điều này Phi tưởng phi phi tưởng xứ trở thành tầng thiền cao tột. Dù thế, cũng cần có vui thú đối với Vô sở hữu xứ, hành giả nên suy xét: “Tuy so với thiền tầng thứ tư không hơn về sự tế nhị và an tịnh. Song Vô sở hữu xứ không phải là nhỏ nhoi, yếu kém, một khả năng tiếp nhận cảnh giả định từ Không vô biên xứ làm trở thành cảnh vô hữu giả định.
Kế đến, vị hành giả hướng tâm đến Vô sở hữu xứ đã diệt, rồi tác niệm Santametaṃ paṇītametaṃ... (chính đây là an tịnh, chính đây là tối thượng) và vẫn tu tập như thế, khi không còn ái chấp đối với Vô sở hữu xứ, tức hành giả đã đạt đến giai đoạn cận hành. Tiến đạt còn lại cũng phát triển không lâu, nghĩa là một thời gian sau đó cảnh vô hữu giả định sẽ hoại đi, thay vào đó là cảnh vô sở hữu xứ là ấn tướng. Cùng lúc này, tâm thiền Phi tưởng phi phi tưởng và hai chi thiền cũng hiện khởi và tiến trình này được diễn tiến như sau:
Khởi đầu là hai hữu phần rúng động, dứt dòng, kế tiếp là khai ý môn, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, bỏ bực rồi tâm thiền Phi tưởng phi phi tưởng. Sau một sát na tâm này, một số hữu phần tâm sanh khởi làm trung gian cho lộ phản kháng sanh kế sau, thẩm sát hai chi thiền xả và định.
Trên đây là quá trình tu chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Phương thức tu chứng Phi tưởng phi phi tưởng ấy, ban đầu trước khi khởi sự tu tập, vị hành giả suy xét các trở ngại của tầng thiền Vô sở hữu xứ, sau đó lại suy xét đức tính của tầng thiền này, rồi vị hành giả tác niệm: Đây là an tịnh, đây là cao thượng. Như thế có phải là mâu thuẫn? Nên hiểu theo trường hợp tương tự, cũng như một người kém nhan sắc, thân thể không có một dáng nét gì là đẹp đẽ, nhưng ông ta là một người có đức tính tốt, cao thượng. Giả như có người nào đó thân cận ông ta, khi đứng trước mặt vị này cũng phải thầm nhận xét: Mẫu người như thế này quả không có gì đẹp. Nhưng lúc đi xa, để nhớ về ông ta, người này sẽ nghĩ: Ông ấy là một người tốt.
Vị hành giả đối với Vô sở hữu xứ cũng thế. Vả lại, vị hành giả chỉ ca ngợi và tác niệm như thế chứ không vì mục đích để nhập trở lại tầng thiền này, chỉ lấy đó làm điểm tựa bước đến tầng thiền trên. Cũng giống như vị vua trên lưng Tượng, khi đến những nơi làm thủ công, đưa mắt nhìn quang thấy một ngà voi được chạm trổ tinh vi, khéo léo trên tay của anh thợ nọ, Đức vua sẽ khen ngợi: Anh ấy là người thợ tài giỏi. Nhưng nếu để nghĩ rằng: Ta sẽ từ bỏ vương vị để trở thành anh thợ tài giỏi kia thì hoàn toàn không.
Ví dụ này, Ngài Buddhaghosa viết bằng nguyên văn:
“Dantakāre vaṇṇentopi Na rājā tattha kāmiko
Asamā patti kāmova Yogiṃ tatiyatikkamo”
Cũng vậy, mặc dù hành giả ca ngợi tầng thiền Vô sắc thứ ba và tác niệm: Đây là an tịnh! Đây là cao thượng, nhưng điều đó không phải là mục đích để nhập lại tầng thiền này.
Bốn thiền Vô sắc sẽ cao trội hơn theo thứ tự thiền chứng, nghĩa là:
“Supaṇītatarā honti Pacchimā pacchimā iddha
Upanā tattha viññeyyā Pasādatalasāṭīkā”
“Bốn tầng thiền Vô sắc ấy, tầng thiền sau sẽ cao trội hơn tầng thiền trước theo một trình tự thứ bậc.
Tương tự như ngôi lầu bốn tầng, hay như tấm lụa có từng nét vẽ đẹp hơn nhau”
Nói thế, mà chỉ suy xét bốn tầng thiền này theo khía cạnh chi thiền mà không xét đến quá trình tiến đạt thì có thể dễ dàng hiểu lầm vì tất cả đều là hai chi thiền xả, định như nhau. Nhưng nếu xét kỹ quá trình phát triển tiến đạt, sẽ thấy các tầng thiền trên cao trội hơn theo một thứ bậc tuần tự. Cũng như một tòa lầu bốn tầng, tất cả được trang bị đầy đủ các tiện nghi và nhu yếu. Nhưng nếu quan sát kỹ, sẽ thấy các tầng lầu càng cao thì càng đầy đủ hơn, bốn tầng sẽ có mức chênh lệch khác nhau13. Hay giống như bốn tấm vải được dệt từ một thứ hàng và cùng một kích thước.
Nhưng ở mỗi tấm sẽ có sự chênh lệch nhau về nghệ thuật: hoặc đang dệt, hoặc cắt may, hoặc cả hai điều này.
Các quá trình tu chứng, bước đầu và sau cùng như đã nói, từ giai đoạn Sắc giới đến Vô sắc giới được giải rộng theo lối án xứ địa đại hoàn tịnh, chín án xứ hoàn tịnh còn lại đối với việc phát triển các tầng thiền cũng tương tự như thế. Các phần sau chỉ giải thích điều khác nhau mà phần này không đề cập.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de