MINH SÁT TIẾN ÐẠT (Vipassanābhāvanā)
Vipassanā nói về ý nghĩa có lời giải tự rằng:
“
Rūpādi - ārammaṇesu paññattiyā ca nicca sukha atta subha saññāya ca visesena nīmarūpabhāvena vā aniccādiākārena vā passatīti = vipassanā”
“Sự quán xét các cảnh xuyên qua ý nghĩa danh sắc, để không còn ý thức giả lập: Danh và nghĩa chế định. Hay gọi sự quán xét sáng suốt thực tướng các cảnh qua các ý nghĩa vô thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh, để không còn những định kiến thường, lạc, ngã, tịnh. Sự quán xét đó được gọi là VIPASSANĀ hay Minh sát”.
Hay một lời giải thích:
“Pañcakkhandhesu vividhena aniccādi-ākārena passatīti = Vipassanā”
“Sự quán xét thấy ngũ uẩn là vô thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh, gọi là
Vipassanā”
Ở lời giải thứ nhất, hiểu theo văn tự, vipassanā được định nghĩa như sau:
Theo lối chiết tự
VI có nghĩa là “Thù diệu, đặc thù”.
PASSANĀ là sự thấy sáng suốt. Như vậy, Vipassanā là sự nhận thấy sáng suốt một cách đặc thù. Như lời định nghĩa sau: “
Visesena passatīti = Vipassanā”
Về ý nghĩa thứ nhất của Vipassanā có hai khía cạnh:
- Quán xét các cảnh theo phương diện danh và sắc.
- Quán xét các cảnh qua bốn ý nghĩa: vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.
Các sự thẩm quán này được gọi là thù thắng, đặc thù, vì rằng các cảnh do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý nhận thức. Bản chất của chúng chỉ là Danh hoặc Sắc. Nhưng thường chúng sanh chỉ nhận thức trong khuôn lối giả lập, theo một định thức cố hữu: Mắt nhìn cảnh sắc nhận thức: Ðây là vật này, ấy là vật kia. Các căn còn lại cũng nhận thức thế: Ðó là tiếng hay, tiếng xấu, là hương thơm, mùi thối, là vị ngon, vị dở, là êm ái, bức xúc, là vừa lòng, nghịch ý… Sự ngộ nhận những giả lập như vậy được gọi là sự nhận thức thông thường – Gọi là “thông thường” vì phần đông chúng sanh đều ngộ nhận – Sự nhận thức chân thật tướng các cảnh, đó là sự quán xét vạn hữu theo phương diện Danh và Sắc.
Khía cạnh thứ hai tức là quán xét các cảnh theo bốn tính chất: vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh. Các cảnh do các căn môn nhận thức luôn mang tính sanh diệt, tiếp nối đổi thay, mà phần đông chúng sanh đều ngộ nhận: Các cảnh thức (cảnh do tâm nhận biết) và thức là trường tồn, là vĩnh hằng, là bất biến dịch, có chăng chỉ là sự chuyển dời theo một quy luật hoàn toàn mang tính ổn định, từ đó mà nảy sinh kiến chấp: Vạn hữu là thường, lạc, ngã, tịnh.
Ðể so sánh điều này, cũng giống như người ngắm bức tranh, họ nhìn thấy nhà cửa, phố, xá, núi, non, người, vật… mà họa sĩ đã vẽ vào đấy, nhưng họ không thấy được sự chuyển động, thay đổi, cử động của những cái mà họ gọi là người, vật, phố, xá, nhà, cửa… trong bức tranh đang nhìn. Cũng vậy, các cảnh thức do các căn môn nhận biết của chúng sanh cũng giống như cái nhìn của người xem tranh với bức tranh, cũng không biết rằng nó luôn luôn thay đổi, sanh diệt, chuyển tiếp và không bao giờ ở trạng thái ổn định. Như thế, tâm ghi nhận, quán xét các cảnh có thể là bất thiện, thiện tương ưng, thiện bất tương ưng. Nhưng chỉ sự quán sát nào bằng tâm thiện tương ưng trí mới là sự quán xét theo Minh sát.
Nghĩa là thấy rằng: Các vạn hữu đều mang những tính chất vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.
Nói về ý nghĩa thứ hai của Minh sát
Vipassanā
“Pañcakkhandhesu vividhena aniccādi-ākārena passatīti = vipassanā”
(Sự quán xét trên bốn ý nghĩa vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh đối với 5 uẩn gọi là Vipassanā).
VI trong nghĩa
Vipassanā của lời giải tự trên, có nghĩa là “chi tiết, khía cạnh”.
PASSANĀ là sự thấy sáng suốt. Như vậy
Vipassanā có nghĩa là “Sự thấy sáng suốt ở mỗi khía cạnh: vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh”.
Thông thường chúng sanh đều mang kiến chấp: Thân và tâm thức là thường hằng, là an lạc, là bản ngã, là thiện mỹ. Những kiến chấp sai lầm này có thể là những tâm bất thiện, thiện bất tương ưng, và cả thiện tương ưng. Chỉ khi tâm đại thiện tương ưng trí dùng trong quán xét bốn tính chất của ngũ uẩn như đã nói, mới gọi là Minh sát.
Vipassanā phân loại có ba:
- Saṅkhārapariggaṇhanakavipassanā: Hành quán Minh sát.
- Phalasamāpattivipassanā: Thiền quả Minh sát.
- Nirodhasamāpattivipassanā: Thiền diệt Minh sát.
Với ba Minh sát này, Hành quán minh sát (
saṅkhārapariggaṇhanakavipassanā) không nhất thiết phải là lợi quán (
tikkha) hay trì quán (
manda), cả hai đều có thể đạt đến tâm Ðạo, khác nhau chỉ là nhanh hay chậm. Nghĩa là, nếu Minh sát trì quán sẽ chứng đạt Thánh Ðạo chậm hơn và tầng Thánh Ðạo này gọi là
Dandābhiññāmagga (trì trí đạo). Ðối với Minh sát lợi quán thì sẽ chứng đạt nhanh hơn và tầng Thánh này được gọi là
Khippābhiāmagga (Lợi trí đạo). Về Thiền quả Minh sát, cần phải là Lợi quán (Tikkhavipassanā). Vì sự minh sát này là nhân giúp cho tâm quả sanh khởi mà không cần sự trợ giúp của Tâm đạo như trong lộ đắc đạo. Tuy nhiên đối với vị thuần thục, tự tại thì trì quán Minh sát (Mandavipassanā) cũng có thể nhập thiền quả được.
Riêng về Thiền Diệt Minh sát thì cần ở mức quân bình, nghĩa là không trì quán mà cũng không lợi quán. Vì đây là Minh sát mà khi hành giả tu tập, đồng thời cũng triển khai thiền chỉ tịnh. Do đó, Minh sát này còn gọi là song hành minh sát (Yuganandhavipassanā).
Trong tập sớ Visuddhimagga-atthakathā và Paṭisambhidāmagga-Atthakathā. Các vị A Xà Lê giải thích ba Minh sát này như sau:
“Vipassanā panesā tividhā hoti saṅkhārapariggaṇhanakavipassanā, phalasamāpattivipassanā, nirodhasamāpattivipassanāti. Tattha
Saṅkhārapariggaṇhanakavipassanā mandā vā hotu tikkhā vā maggassa padaṭṭhānaṃ hotuyeva.
Phalasamāpattivipassanā tikkhāva vaṭṭati maggabhāvanāsadisā.
Nirodhasamāpattivipassanā pana nātimandanātitikkhā vaṭṭati.
Tasamā esa nātimandāya nātitikkhāya vipassanāya te saṅkhāre vipassati”
Ba Minh sát này:
Hành quán Minh sát – sự suy xét các pháp hành Danh và Sắc để chứng các tầng thánh Ðạo, Thiền quả Minh sát – sự quán xét Danh và Sắc để nhập thiền quả, Thiền diệt Minh sát – sự thẩm sát các tầng thiền Ðáo Ðại để nhập thiền diệt.
Ðối với hành quán minh sát, như đã nói lợi quán hay trì quán đều là nhân cận giúp cho Tâm Ðạo. Riêng Thiền quả Minh sát thì cần là lợi quán, Minh sát này cũng giống như sự phát triển các chi đạo trong tâm Ðạo, vì Minh sát này tuy lấy cảnh là các pháp hành. Song chỉ lấy đó (pháp hành) để nhàm chán, hướng viễn ly, chớ không chấp giữ. Vả lại, Thiền quả Minh sát là nhân hỗ trợ cho tâm quả hiện khởi lấy cảnh là Níp Bàn, cũng như tâm đạo giúp cho tâm quả sanh khởi trong lộ đắc đạo. Về Thiền diệt Minh sát thì phải trung hòa lợi quán và trì quán, vì rằng nếu trí Minh sát chậm chạp, yếu ớt thì hành giả sẽ nghiêng nặng về định, mà tâm định già mạnh thì tâm và tâm sở không thể diệt, chỉ ở trong trạng thái yên tịnh. Và ngược lại, nếu trí Minh sát quá mạnh mẽ, nhạy bén thì hành giả chỉ suy xét về thực tính pháp hành. Ðiều này chỉ dẫn đến thiền quả chứ không là thiền diệt.
Sau đây là một số lời giải tự tiếng Kammaṭṭhāna trong câu kệ dẫn nhập, trích từ Visuddhimaggamahāṭīkā. Theo bộ sách này “Kammaṭṭhāna” có nghĩa là nền tảng để triển khai “Chỉ tịnh và Minh sát”
Kammaṭṭhāna chiết tự có 2 tiếng: Kamma + ṭhāna.
Kama có nghĩa là việc làm (Kamma = kiriyā).
Ṭhāna là chỗ đứng hay nền tảng (ṭiṭṭhati etthāti = ṭhānaṃ).
Cái mà nhờ đó hành giả triển khai chỉ tịnh (kasiṇa, anussati…) và Minh sát (danh, sắc…) cái đó được gọi là “ṭhāna” – Xứ.
Kammaṭṭhāna có hai: Ārammaṇakammaṭṭhāna và Ārammaṇikabhāvanākammaṭṭhāna.- Ārammaṇakammaṭṭhāna tức lấy đề mục chỉ quán làm cảnh án xứ để triển khai chỉ tịnh (Kasiṇa, anussati…) và Minh sát (tabhūmakasaṅkhāradhamma: Danh, sắc).
- Ārammaṇikabhāvanākammaṭṭhāna là cảnh án xứ lấy sự chuyên cần mà trước đó đã tu tập Chỉ tịnh hay Minh sát làm động lực giúp cho sự chuyên cần hiện tại.
Ārammaṇakammaṭṭhāna hay Ārammaṇikabhāvanākammaṭṭhāna tuy là hai nhưng không phải hoàn toàn khác nhau. Ārammaṇakammaṭṭhāna giống như cuộn phim và Ārammaṇikabhāvanākammaṭṭhāna là người xem phim.
Như lời giải tự sau đây: “Kammassa ṭhānaṃ = Kammaṭṭhānaṃ”
Cảnh mà là nền tảng để triển khai Chỉ tịnh hay Minh sát. Cảnh ấy gọi là Kammaṭṭhāna. Hay sự tinh cần nào hiện khởi nhờ động lực của sự tinh cần tu tập chỉ quán trước đó. Sự tinh cần ấy
gọi là Kammaṭṭhāna.
Những lời giải thích tiếng Kammaṭṭhāna theo Nayamūlaṭīkā:
“Kammeva visesādhigamassa ṭhānanti - kammaṭṭhānaṃ (vā) Kame bhānanā rabbo ṭhānanti = kammaṭṭhānaṃ”
“ Sự tu tiến nào là nhân chứng đắc thiền hay Ðạo quả và Níp Bàn. Ðó được gọi là Kammaṭṭhāna”.
Hay “Sự tinh cần trong việc làm nào dẫn đến các tầng thiền, đạo, quả và Níp Bàn. Ấy gọi là Kammaṭṭhāna”
Theo lời giải thích trên thì Kammaṭṭhāna là chính sự phát triển Chỉ tịnh và Minh sát.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de