www.tudieu.de

Chỉ Tịnh Minh Giải

← 3 Mục Lục 5 →


SỰ NHẬN BIẾT VỀ CARITA



Ngoại trừ những vị đắc Tha tâm thông (Paracittavijānamā) thì không ai có thể biết chính xác về tâm tính của người khác, có chăng cũng chỉ biết mơ hồ qua tướng trạng, ngoại hình, điềm báo… mà các khoa tướng số, bói toán đã giải thích. Riêng về Phật giáo có thể nhận xét những đặc điểm sau đây mà xác định thuộc về cơ tánh nào.

Iriyāpathato kiccā Bhojanā dassanādito
Dhammappavattito ceva Cariyāyo vibhāvayehi

(Trích từ Visuddhimaggatthakathā)

Đối với bậc trí, để nhận định cơ tánh về mình hay người khác, các Ngài nhận xét qua năm điểm: Oai nghi (cách đi, đứng, nằm, ngồi), việc làm, vật thực, cách nhận thức (cách nhìn, nghe, ngửi...) pháp tánh.

CƠ TÁNH ÁI

Để xác định một người có cơ tánh ái (rāgacarita) cần xét qua các đặc điểm sau đây:
  1. Các cử chỉ oai nghi:
    Trong cách bước đi có dáng vẻ nhẹ nhàng, mềm yếu. Những bước chân đều đặn, khi dở chân hay đạp xuống không có vẻ gì là vội vã. Sức nặng của cơ thể sẽ để lại dấu chân in đậm ở phần trước bàn chân. Những cử chỉ khi đứng hoặc ngồi đều dễ dàng, duyên dáng.
    Khi nằm nghỉ không bao giờ vội vàng, chỗ nghỉ được sửa soạn chu đáo, kỹ lưỡng. Lúc ngủ trong thế nằm nghiêng, các cử chỉ nhỏ nhặt, tế nhị trong lúc nằm được dung hợp bởi những động tác hài hòa. Có những dáng vẻ điệu bộ gần như không mấy hài lòng khi ai đánh thức, gọi dậy.
  2. Sự thọ dùng (bhojana):
    Ở người cơ tánh này, họ thường ưa thích những vật thực mềm mại và mang những vị béo ngọt. Tuy vậy dùng vật thực họ chỉ dùng chừng mực, vừa phải (đây chỉ là một thái độ bản năng) và không bao giờ có vẻ vội vàng.
    Một thói quen ở những người cơ tánh này là họ vẫn thường thích nếm những vị lạ, và với họ một ít vị ngon là đã vừa lòng.
  3. Việc làm:
    Tất cả việc làm đều được thực hiện một cách chu đáo, kỹ lưỡng và chậm rãi.
  4. Tính cảm quan (dassana):
    Với người cơ tánh này, một đối tượng ngũ quan khả ái dễ dàng gây sự chú ý, thích thú cho họ, dù đối tượng ngũ quan đó chỉ là cái bình thường, nhỏ nhặt. Song với họ là một sự thú vị của người lần đầu mới gặp.
    Đặc tính khác, luôn rộng lượng và biết tha thứ, họ dễ dàng bỏ qua một lỗi lầm hay sự xúc phạm của kẻ khác.
    Cảm tính của người cơ tánh này là vẫn thường lưu luyến, dính mắc những đồ vật hay chốn ở mà với họ nó có những dáng nét quen thuộc, những ấn tượng khó quên.
  5. Pháp tánh (dhammapavatti)
    Người cơ tánh ái, thường có những khuyết tánh sau: Gian xảo (māyā), tự cao (sātheyya), sánh bì (māna), thiên hướng ác hạnh (pāpicchatā), thích được tán tụng (mahicchatā), không biết đủ (asamtuṭṭhitā), mưu mô (siviga), thích đỏm dáng (cāpalya).


CƠ TÁNH TÍN

Người có cơ tánh tín chỉ khác cơ tánh ái những pháp tánh sau: Dứt bỏ, không chấp trước với tài sản (muttacāgatā), thích diện kiến bậc thiện trí (ariyānaṃ dassanakāmatā), vui mừng khi gặp bậc thiện trí và nghe pháp (pāmojjabahulatā), khiêm nhường (asathatā), không gian xảo (amāyāvitā), luôn có lòng tịnh tín (pāsāda).

CƠ TÁNH SÂN

Riêng người cơ tánh sân thì hoàn toàn trái ngược những đặc điểm kể trên:
  1. Các cử chỉ oai nghi (iriyāpatha)
    Những cử chỉ trong lúc bước đi cứng rắn, mạnh dạn và nhanh nhẹn. Những bước chân nặng nề sẽ để lại dấu chân hằn sâu nét gót.
    Trong lúc đứng hoặc ngồi cũng trong dáng vẻ mạnh dạn và thô cứng.
    Khi nằm vẫn là những động tác nhanh nhẹn cố hữu. Ở người cơ tánh này, chỗ nghỉ không là điều mà họ phải quan tâm, do đó thường hay bừa bãi và ít khi được sửa soạn kỹ lưỡng, chu đáo. Cũng như người có tính ái, họ không mấy vừa lòng khi đánh thức, gọi dậy, thậm chí điều này có thể làm cho họ nổi giận nữa là khác.
  2. Việc làm (kicca)
    Tất cả những việc làm, họ đều cho kết quả hoàn tất. Song, những việc làm này được thực hiện bởi những động tác hết sức cẩu thả và bừa bãi.
  3. Sự thọ dùng (bhojana)
    Những vật thực mang các vị mặn, đắng, chua, chát vẫn là những thứ mà họ thích hơn cả. Trong khi dùng thức ăn, thức uống, họ dùng thô tháo, vội vàng, và tương ứng với cố tật này là không có thói quen nếm vị. Có lẽ vì thế họ dễ bất bình với những thức ăn nào đó mà không vừa lòng.
  4. Tính cảm quan (dassana)
    Cực đoan trong cảm quan nhận thức. Hoàn toàn không vừa lòng trước đối tượng ngũ quan bất toại, dù chỉ là một khía cạnh tầm thường, nhỏ nhặt mà họ đã xem là không hay. Đối với người cơ tánh sân, họ không mấy gì lưu tâm đến những đồ vật, chốn ở quen thuộc mà vì điều kiện nào đó họ phải bỏ đi. Lẽ ra với người cơ tánh ái, ấy là vì ấn tượng khó phôi phai.
  5. Pháp tánh (dhammapavatti)
    Người cơ tánh sân thường mắc phải những khuyết điểm tánh sau: Nóng giận (kodha), thù hiềm (upanāha), chỉ trích việc công đức của kẻ khác (makkha), muốn hơn người (palāsa), ganh tỵ (issā), bỏn sẻn (sovacassatā).


CƠ TÁNH GIÁC

Đối với người cơ tánh giác chỉ khác với người cơ tánh sân ở những thiện tánh sau đây: Biết nghe những lời dạy bảo hữu ích (sovacassatā), là người bạn tốt cho kẻ khác (kalyāṇamittatā), tiết độ trong vật thực (bhojane mattađđutā), ghi nhận và cảnh tỉnh (chánh niệm tỉnh giác - satisampajjađđaṃ), luôn luôn hướng đến tinh cần (jāgariyānuyoga), có lòng thương cảm (samvega), chuyên cần với những việc làm công đức (yonisopadhānaṃ).

CƠ TÁNH SI

Người cơ tánh si có những đặc điểm sau:
  1. Các cử chỉ oai nghi:
    Cách bước đi, dở chân và đạp xuống bằng những động tác cứng nhắc, những cử chỉ thô kệch. Người cơ tánh si cũng như người cơ tánh sân tức là sức nặng của cơ thể chịu nhiều về phần sau bàn chân. Như vậy, dấu chân sẽ in đậm nét gót.
    Những cử chỉ khi đi, đứng hoặc ngồi thường trong dáng vẻ thụ động, mất linh hoạt. Trong lúc nằm nghỉ, không lấy gì là đẹp đẽ, tay chân hoàn toàn tự do buông thả vô ý thức. Nằm trong thế úp mặt lại, chỗ nghỉ không được sửa soạn, vung vãi, bừa bãi, khi ai đánh thức họ chậm chạp, trễ nải và sau những động tác trì hoãn kéo dài, họ mới hoàn toàn thức dậy.
  2. Việc làm (kicca)
    Những công việc được thực hiện là vụng về, thô kệch. Người cơ tánh này ít đem lại một kết quả thành công.
  3. Cách thọ dùng (bhojana)
    Không ưa thích cá biệt vật thực nào như những người cơ tánh khác, việc ăn uống của họ không lựa chọn. Trong lúc dùng những thức ăn, họ rất vụng về, thô tháo, những vật thực đổ rớt, y phục vấy bẩn hay vật thực còn dính lại phần ngoài miệng. Khi đó, nếu họ làm một việc thì việc đó là ăn, uống.
  4. Tính cảm quan (dassana)
    Ở người cơ tánh si họ không thể nhận xét đối tượng nhận thức mà họ đang quan sát hay cảm nhận một cách tự tin (hoặc vì khả năng hiểu biết hạn chế, hoặc vì thiếu thói quen phán đoán).
    Sự nhận định của họ hoàn toàn lệ thuộc vào kẻ khác, người mà họ xem là hơn mình. Sự nhận định của người đó sẽ là sự nhận định của họ cả việc nhận định về một người, họ cũng đều như vậy cả.
  5. Pháp tánh (dhammapavatti)
    Người cơ tánh si thường có những khuyết điểm tánh như: Buồn ngủ, dã dượi (thīnamiddha), phóng túng, buông lung (kukkucca), ngờ vực, phân vân (vicikicchā), không tin lý nhân quả (ādānagāhitā), khó dạy bảo (duppaṭinissaggitā).


CƠ TÁNH TẦM

Đối với những người cơ tánh tầm, cũng giống như người cơ tánh si, khác nhau chỉ là về các pháp tánh sau: Thường nói nhiều (bhassabahulatā), vui thích những nơi đông đảo, hội chúng (gaṇārāmatā), không vui thích trong việc làm công đức như bố thí, trì giới... thiên hướng bất định, những việc làm không đi đến kết quả (anavaṭṭhitakiccatā), ban đêm thường có những suy nghĩ hư ảo (rattidhumāyanā), ban ngày họ ra sức làm việc mà ban đêm suy tính nghĩ ngợi, điều mà họ không biết rằng nó sẽ chẳng đi đến kết quả (divāpajjalanā). Ở những người có cơ tánh này thường có suy nghĩ rối rắm (hurāhuraṃdhāvanā).
Lối nhận định về Carita trên đây, bậc Đạo sư không đề cập đến, cả những vị A La Hán tuệ phân tích, Lục thông cũng vậy.
Đây chỉ là những lời nhận định của những vị A Xà Lê tiền bối, để thiền sinh dễ dàng chọn lấy án xứ (kammaṭṭhāna) thích hợp.
Như vậy, cũng cần nên hiểu, sự nhận định trên chỉ nằm trong lãnh vực tương đối thôi. Vì rằng, đối với người cơ tánh hỗn hợp, để nhận định về họ không phải là điều dễ dàng, và rất có thể dẫn đến sự nhầm lẫn. Vả lại, nếu không phải là những vị tha tâm thông, thì đối với những người đa văn khéo học hỏi. Dầu cho họ là những người cơ tánh bất thiện chăng nữa – nhờ chánh niệm tỉnh giác (satisampajjađđā) mà họ có thể bỏ đi những cá tính không hay, điều này là thành quả của kiến văn hiểu biết. Như thế, sự nhận định họ thuộc về cơ tánh nào thì càng là điều khó khăn hơn.

NHÂN SANH CARITA

Một điều kỳ lạ là trong chúng ta ai ai cũng là người như nhau, song tâm tính mỗi người mỗi khác, nếu không phải là trái hẳn nhau. Điều này kể cả những người là bà con, anh em ruột thịt, có người thiên hướng ác hạnh, có người thiên hướng thiện hạnh hoặc có người cả hai. Vì sao có sự dị biệt này? Ấy chỉ vì những việc làm thiện nghiệp trong quá khứ của mỗi người không giống nhau.

Nếu trong lúc bố thí, trì giới, tu thiền hay làm việc công đức nào đó mà kèm theo những sự vọng cầu mong muốn quả báo tài sản của chư thiên hay nhân loại – dĩ nhiên những sự ước vọng này không cùng tâm lộ với tâm đang tạo thiện nghiệp – đó là ái.

Trong lúc ấy nghĩ rằng: Mình là người như thế này, như thế kia, là kiêu mạn, chấp TA LÀ, tức kiến sai lầm. Những thiện nghiệp nào được tạo mà theo đó là những tham phần này, sẽ là nhân cho hậu quả các sanh hữu sau đó là người có tánh ái.

Nếu trong lúc tạo các công đức mà nảy sinh sự bực tức, bất bình hay ganh ghét hoặc bỏn sẻn, hoặc tiếc nuối. Những thiện nghiệp làm theo các sân phần này sẽ cho kết quả những sanh hữu về sau là người cơ tánh sân.

Nếu khi làm các thiện nghiệp mà làm một cách mù quáng, thiếu sáng suốt, không biết rõ đâu là nhân, đâu là quả của việc làm, hoặc ngờ vực, lưỡng ước trong lúc làm hay phóng đáng mông lung quên rằng mình đang làm việc công đức. Chính những thiện nghiệp mà bên cạnh là những sự mù quáng, nghi hoặc, phóng đãng này sẽ dẫn đến các sanh hữu về sau là người cơ tánh si.

Nếu trong lúc làm các công đức mà mải mê, vui thú, nghĩ ngợi đến những đối tượng dục phược (kāmaguṇa-ārammaṇa) tức dục tầm (kāmavitakka). Hay nghĩ đến sự oán giận, thù hiềm với kẻ khác là hận tầm (byāpādavitakka). Hoặc là suy nghĩ, tính kế làm hại chúng sanh khác, tức là hại tầm (vihiṃsāvitakka). Chính những thiện nghiệp bị chi phối bởi ba loại tầm này sẽ cho kết quả là người có tính tầm trong các sanh hữu về sau.

Nếu cùng trong lúc tạo các công đức mà khởi lên sự tịnh tín, trong sạch, tin nơi quả báu của việc mình đang làm hay hướng tâm ngưỡng mộ về Tam Bảo, tức là đức tin. Các thiện nghiệp cùng với đức tin này sẽ cho quả báu các sanh hữu sau đó là người cơ tánh tín.

Nếu trong lúc thực hiện việc làm công đức một cách sáng suốt, hiểu rõ thế nào là nhân, là quả của việc đang làm, khi thực hiện thiện nghiệp khéo tư duy: Tất cả chúng sanh được tạo tác bởi nghiệp, nghiệp là tài sản, nghiệp là cha mẹ, nghiệp là quyến thuộc và rồi tất cả đều là vô ngã. Đấy là biệt nghiệp trí (Kammassakatađāṇa). Ta và người khác chỉ là những ngũ uẩn, những danh sắc trong một tập hợp cái mà gọi là bàng sanh, nhân loại, người nam, người nữ, chỉ là những giả định để gọi cho những đơn vị danh sắc mà bản chất cố hữu vẫn là sanh và diệt. Đây tức là Minh sát trí (Vipassanāđāṇa). Hay nghĩ rằng: Các bậc hiền trí luôn trau dồi, tích tập các công đức, nay ta làm việc làm của những vị ấy đó sẽ là điều an lạc cho đời này và đời sau. Tức là thẩm quán trí (Paccavekkhaṇađāṇa). Hoặc ước mong rằng: Nhờ năng lực của những công đức này, xin cho ta hãy là người có trí tuệ. Chính việc làm công đức được trí tuệ khéo tư duy như vậy sẽ cho kết quả là người cơ tánh giác trong các sanh hữu về sau. Do luật chi phối (hiện tại với hiện tại, hiện tại với vị lai, quá khứ với hiện tại) mà mạnh dạn đi đến kết luận: Những thiện nghiệp và điều kiện chi phối trong quá khứ cho kết quả đời hiện tại và nhờ đó cơ tánh được xác định.

Như vậy, những ai ước mong cho mình có một thói quen thiện tánh thì cần ngăn ngừa ác pháp không để chi phối trong khi làm việc công đức.

Và hơn nữa, trong điều kiện thuận lợi: Được sanh làm người, gặp Phật giáo và có tuổi thọ. Nếu tỉnh thức và biết mình thời cơ hội hoán cải, sửa đổi (nếu là cơ tánh bất thiện), cơ hội vun bồi, tích lũy (nếu là cơ tánh thiện) sẽ không là điều khó khăn bởi những thiện nghiệp sau:
Luôn học hỏi những pháp nhân sanh trí hoặc giúp cơ hội cho kẻ khác học hỏi, dứt bỏ tài sản, bố thí thuốc trị bệnh, cúng dường sàng tọa, và điều dĩ nhiên là những thiện nghiệp này không bị chi phối bởi những chướng ngại pháp.

 


← 3 4 5 →

Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên


Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de