GIẢI VỀ BA TIẾN ĐẠT (BHĀVANĀ)
- Sơ khởi tiến đạt - Parikammabhāvanā:
Sơ khởi tiến đạt (hay chuẩn bị tiến đạt), là những tâm đại thiện, đại tố nào từ lúc bắt đầu sanh khởi làm nhiệm vụ nhất tâm, chú mục vào các án xứ chỉ tịnh cho đến khi thủ trì tướng (Uggahanimitta) xuất hiện. Những đại thiện, đại tố trong quá trình này được gọi là giai đoạn chuẩn bị tiến đạt – Parikammabhāvanā.
Sau đây là những lời giải tự tiếng Parikamma:
“Appanaṃ parikaroti parisaṅgarotīti = Parikammaṃ” và “Pari-ādi bhūtaṃ kammaṃ parikammaṃ”
“Tâm lộ nào làm nền tảng, làm nhiệm vụ chuẩn bị cho kiên cố định (appanā) hiện khởi. Tâm lộ ấy gọi là parikamma”.
Hay: “Tâm lộ nào là nguyên nhân để triển khai án xứ. Tâm lộ ấy gọi là Parikamma”.
Tiếng Pari hay parikamma ở lời giải tự thứ nhất được giải thích là Dhātuvatthānuvatthaka-upasārapada tức là cội nguồn hay khởi đầu, chứ không dùng trong nghĩa thông thường: Vẹn toàn hay bao trùm.
Ở lời giải tự thứ hai Pari được giải thích là Dhātuvatthavisesaka-upasārapada, tức là sự khởi đầu một cách đặc thù chuyên biệt. Nói rõ hơn là sự khởi đầu của một quá trình tiến đạt án xứ.
Tâm lộ nào là nền tảng, là cơ sở cho kiên cố định hay là khởi điểm của một quá trình tiến đạt án xứ. Hành giả làm phát triển, làm lớn mạnh những tâm lộ ấy. Sự phát triển ấy gọi là chuẩn bị tiến đạt (Parikammabhāvanā).
Hay sự tiếp nối liên tục của những tâm lộ làm nhiệm vụ chuẩn bị cho kiên cố định. Sự chuyển tiếp này gọi là chuẩn bị tiến đạt – Parikammabhāvanā. Như lời giải tự:
Parikammađca taṃ bhāvanā cāti = Parikammabhāvanā
Những tâm lộ phát triển làm nhiệm vụ chuẩn bị, những tâm lộ đó gọi là chuẩn bị tiến đạt (Parikammabhāvanā).
- Cận hành tiến đạt – Upacārabhāvanā
Những tâm đại thiện, đại tố nào sanh kế cận kiên cố định hay thiền chứng. Gọi là cận hành.
Đây là lời giải tự tiếng Upacāra – Cận hành.
“Appanāya sanūpe carita pavattatīti = Upacāraṃ”.
Tâm lộ nào đến gần lãnh vực thiền chứng, thì gọi là cận hành.
Sự phát triển những tâm lộ cận hành này, gọi là cận hành tiến đạt (upacārabhāvanā).
Như lời giải tự:
“Upacārađca taṃ bhāvanā cāti = Upacārabhāvanā”
“Sự phát triển cùng với tâm lộ cận hành, gọi là cận hành tiến đạt (upacārabhāvanā)”
- Kiên cố tiến đạt – Appanābhāvanā
Kiên cố hay appanā ở đây chỉ cho sự trực chỉ của tâm sở tầm. Những tâm đáo đại và tâm siêu thế cùng các tâm sở hợp cũng được gọi là appanā. Điều này có nghĩa là appanā hay kiên cố là sự hướng đến của tâm sở tầm cùng các pháp tương ưng.
Song, ở đây nên hiểu theo ý nghĩa chuyên biệt hơn trong lời giải tự sau:
“Appeti sampayuttadhamme ārammaṇaṃ abhiniropetīti – Appanā”
“Pháp nào hướng các pháp tương ưng đến cảnh một cách khắng khít hơn, pháp đó gọi là kiên cố”.
Tức chi thiền tầm trong đáo đại và siêu thế.
Lời giải tiếng “Appanābhāvanā”:
“Appanā ca sā bhāvanā ceti = Appanābhāvanā”
“Những tâm lộ kiên cố cùng sự phát triển của chúng, gọi là kiên cố tiến đạt”.
Trong ba tiến đạt này, những tâm đại thiện hay tâm đại tố nào sanh khởi trước thiền chứng, gọi là Sơ khởi tiến đạt hay giai đoạn chuẩn bị. Ở giai đoạn này được phân làm hai: Những tâm đại thiện, đại tố sanh vào thời điểm đầu giai đoạn chuẩn bị thì gọi là Sơ khởi tiến đạt (
parikammabhāvanā). Cũng những đại thiện, đại tố này mà sanh vào thời điểm cuối của giai đoạn chuẩn bị, nghĩa là sắp bước vào giai đoạn thiền chứng, thì gọi là Cận hành tiến đạt (
upacārabhāvanā). Hai tiến đạt này tuy là hai nhưng chỉ là một, tên gọi khác nhau chỉ vì ở vào thời điểm khác nhau. Trường hợp này tương tự như hữu phần rúng động (
bhavaṅgacalanā), gọi là hữu phần dứt dòng (
bhavaṅgupaccheda), chỉ là vì hữu phần rúng động nào sanh sau.

Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de