GIẢI VỀ BA ẤN TƯỚNG
- Chuẩn bị tướng (Parikammanimitta)
Những cảnh án xứ (như kasiṇa...) đều được gọi là ấn tướng (nimitta).
Theo lời giải tự: “Ārammaṇikadhamme nimiyate jhāniyate = nimittaṃ”
Pháp nào thường được tâm và tâm sở tri nhận trong vai trò năng tri. Pháp ấy được gọi là ấn tướng, hay cảnh sở tri.
Chuẩn bị tướng hay Parikammanimitta tức là ấn tướng của các tâm lộ trong giai đoạn sơ khởi hay còn gọi giai đoạn chuẩn bị.
Parikammabhāvana trong trường hợp này nên hiểu theo hợp từ Rājaputto (rājassa – putto) có nghĩa là con của Đức vua, chớ không phải là vua. Cũng vậy Parikammanimitta là cảnh sở tri của parikammabhāvanā chớ không phải là parikammabhāvanā.
Như lời giải tự sau:
“Parikammassa nimittaṃ = Parikammanimittaṃ”. Cảnh sở tri của chuẩn bị tiến đạt thì gọi là chuẩn bị tướng.
Như án xứ đất, nước, lửa, gió... là ấn tướng của vị hành giả.
- Thủ trì tướng (Uggahanimitta)
Những án xứ nào mà được ý môn ghi nhận không cần qua nhãn quang. Những án xứ ấy gọi là Thủ trì tướng (uggahanimitta).
Đây là lời giải tiếng “Uggahanimitta”
“Uggahetabbanti = uggahaṃ, uggahađca taṃ nimittađcāti = uggahanimittaṃ”
“Cảnh nào được trì giữ bởi các ý môn đổng lực đại thiện và đại tố. Cảnh ấy được gọi là cảnh Uggaha (cảnh được thủ trì).
Những cảnh uggaha trong thời điểm là cảnh sở tri (ấn tướng) của các đổng lực đại thiện và đại tố, thì được gọi là uggahanimitta (thủ trì tướng).
Một lời giải thích khác:
“Uggaṇātīti = uggaho, uggahassa nimittaṃ = uggahanimittaṃ”
“Tâm lộ nào trì giữ cảnh án xứ. Tâm lộ ấy được gọi là uggaha (thủ trì tâm lộ). Cảnh sở tri của tâm lộ này được gọi là uggahanimitta (thủ trì tướng)”.
Một lời giải thích khác:
“Uggaṇātīti - uggaho, uggahassa nimittaṃ - uggahanimittaṃ”
“Tâm lộ nào trì giữ cảnh án xứ. Tâm lộ ấy được gọi là uggaha (thủ trì tâm lộ). Cảnh sở tri của tâm lộ này được gọi là uggahanimitta (thủ trì tướng)”.
Để phân định rõ ràng hơn về hai ấn tướng vừa kể, chúng ta xét qua những điểm khác biệt của hai ấn tướng trên. Chuẩn bị tướng là những án xứ cảnh hiện tại, và được tri nhận bằng nhãn quan (nếu là án xứ cụ thể). Trong khi đó Thủ trì tướng là án xứ mà được tri nhận bằng ý môn chứ không qua trung gian nhãn quan.
Điều này có nghĩa thủ trì tướng là cảnh quá khứ. Và cảnh quá khứ này phải được ý môn biết rõ như nhãn môn đã từng biết.
- Tương tự tướng (Paṭibhāganimittaṃ)
Vì là những án xứ giống nhau nên gọi là Paṭibhāga (tương tự). Paṭibhāganimitta là những án xứ khi trở thành ấn tướng nó mang đặc tính giống nhau như thủ trì tướng (uggahanimittaṃ).
Một lời giải tự như sau:
“Paṭibhāgaṃ nimittaṃ = Paṭibhāganimittaṃ"
Những ấn tướng có đặc tính giống nhau nên gọi là tương tự tướng.
Đây là những điểm dị đồng của hai ấn tướng vừa kể:
Cả hai ấn tướng này: Thủ trì tướng và Tương tự tướng đều là cảnh sở tri mà được tri nhận qua ngõ ý môn chứ không qua trung gian nhãn môn như ấn tướng ban đầu. Sự khác nhau của hai ấn tướng này là đối Thủ trì tướng sẽ được ý môn biết rõ như ngũ môn nhãn quan đã biết, từ hình thể kích thước đến màu sắc của cảnh sở tri này. Riêng về Tương tự tướng cũng được ý môn nhận biết như thế. Song, giai đoạn này cảnh sở tri sẽ tinh tế, khiết hơn, hơn cả 100 lần. Được ví dụ rằng cũng giống như trăng ngày rằm trong suốt không một gợn mây. Sở dĩ như vậy là vì Tương tự tướng là khả năng thiền định thuần thục của vị hành giả thoát thai từ sự chú mục vào thủ trì tướng bằng cách trùng lặp nhiều lần. Tuy nhiên, Tương tự tướng vẫn là cảnh giả định không phải cảnh chơn đế như một số người đã sai lầm.
Trong bộ kinh
Visuddhimaggamahāṭīkā do Ngài
Dhammapāla là Trước giả, nói rằng:
"Taññca kho paṭibhāganimittaṃ neva vaṇṇavantaṃ na saṇṭhānavantaṃ aparamatthasabhāvattā."
Nếu là Chân đế thời Tương tự tướng không có màu sắc hay một hình thể nào cả, do đó Tương tự tướng chỉ là cảnh giả định.
(Ngài Anuruddha trước khi giải thích điều gì, lời nói đầu tiên là “Kathaṃ?” – Tại sao? Từ này thuật ngữ gọi là
kathetukammayatāpucchā – Lời tự vấn).

Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de