PAṬHAVĪKASIṆA
10 Kasiṇa:- đất (paṭhavī kasiṇa)

- nước (āpo kasiṇa)
- lửa (tejo kasiṇa)
- gió (vāyo kasiṇa)
- xamh (nīla kasiṇa)
- vàng (pīta kasiṇa)
- đỏ (lohita kasiṇa)
- trắng (odāta kasiṇa)
- hư không (ākāsa kasiṇa)
- ánh sáng (āloka kasiṇa)
Án xứ địa đại hoàn tịnh:
Paṭhavī (đất) ở đây không dùng trong nghĩa thực tính: Là trạng thái cứng, mềm, trướng hoặc ngại, mà chỉ dùng trong nghĩa thông thường, tức là đất có hình thể hẳn hoi.
Song, trong ý nghĩa giới hạn của án xứ, paṭhavī chỉ cho mảnh đất có một kích thước một hình thể nào đó thích hợp mà hành giả chọn làm án xứ. Theo các Ngài A-xà-lê thì mảnh đất chọn làm án xứ thì mảnh đất chọn làm án xứ, nếu chọn lấy kích thước nhỏ thì chỉ nên chọn bằng chiếc đĩa hay bằng một hình tròn có đường kính khoảng 1 gang 4 ngón tay. Nếu chọn kích thước lớn thì chỉ nên bằng sân phơi lúa, như thế là thích hợp.
Về tiếng Kasiṇa, có nghĩa là trọn vẹn, toàn phần hay toàn tịnh, tức là án xứ khi hành giả chú mục phải tác niệm toàn diện chứ không hướng về một khía cạnh nào như một số án xứ khác.
Ngài Trưởng lão Letī viết trong bộ Paramatthadīpanīmahāṭīkā rằng:
“Asesapharitabbaṭṭhena kasiṇaṃ” Gọi là hoàn tịnh vì đó là tiêu điểm cần phải tác niệm toàn diện.
Như vậy
Paṭhavīkasiṇa là mảnh đất (nhân tạo hoặc tự nhiên), kích thước tùy theo sự thích hợp mà hành giả chọn lấy làm án xứ, và án xứ này phải được hành giả tác niệm toàn diện.
Một lời giải tự khác:
"
Paṭhavī yeva kasiṇanti = Paṭhavīkasiṇaṃ"
Án xứ nào mà hành giả lấy đất làm tiêu điểm và chú mục toàn diện vào đó để tác niệm:
“paṭhavī, paṭhavī...” (đất, đất...) án xứ đó được gọi là Địa đại hoàn tịnh (
paṭhavīkasiṇa).
Nếu chọn lấy án xứ hoàn tịnh là mảnh đất tự nhiên, không một hình thể, một kích thước nhất định thì đòi hỏi hành giả phải là người đầy đủ thiện căn, đã từng chứng đạt Thiền sắc trong các sanh hữu kế cận đời này bằng án xứ địa đại hoàn tịnh, mà nhờ đó chính trong hiện tại, chỉ nhìn mảnh đất và tác niệm
“paṭhavī, paṭhavī...” bằng Sơ khởi tiến đạt, chừng ấy Thủ trì tướng cũng có thể xuất hiện. Rồi tiếp tục chú mục vào Thủ trì tướng sẽ hiện khởi và sau đó sẽ là Thiền chứng.
NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐẦU TIÊN CỦA VỊ HÀNH GIẢ
Đối với môn đồ Phật giáo, người cư sĩ hay bậc xuất gia, có lòng tịnh tín nơi Tam Bảo, hiểu biết về kết quả của hành động (không xem lý nhân quả là một lý thuyết tôn giáo) thì chỉ mỗi một việc cần làm là chọn lấy một trong hai con đường dẫn đến bất tử:
1. Con đường trực chỉ hay sự tu tập Minh sát theo Bốn niệm xứ.
2. Con đường luân khởi hay sự tu tập Chỉ tịnh và nhờ nền tảng này phát triển Minh sát.
Dù con đường nào, điều cần thiết đầu tiên cũng là những điều kiện thiết yếu và môi trường thích hợp sau đây:
- Cần thúc liễm trong giới hạnh.
- Tránh những điều vọng niệm (palibodha)
- Thân cận thiện hữu.
- Học hỏi về những điều thích nghi với án xứ đang tu tập (một điều mà vị Thiền Sư không thể thiếu sót với đệ tử).
- Tránh những trú xứ không thích hợp với việc hành trì.
- Tránh những bận tâm, lo nghĩ những điều nhỏ nhặt.
Việc thọ trì giới hạnh:- Đối với tại gia cư sĩ thì thọ trì ngũ giới, bát giới hay giới nuôi mạng chân chánh.
- Đối với Sa di thọ trì thập giới.
- Đối với Tỳ kheo thì thu thúc trong giới bổn.
Mười điều vọng niệm (palibodha)
Āvāso ca kulaṃ lābho gaṇo kammañca pañcamaṃ addhānaṃ ñāti abādho gantho iddhīti te dasāti
Hành giả cần phải tránh mười điều vọng niệm sau:
- Vọng niệm về trú xứ (Āvāsapalibodha)
- Vọng niệm về tín thí (Kulapalibodha)
- Vọng niệm về lợi lộc (Lābhapalibodha)
- Vọng niệm về tập thể, hội chứng (Gaṇapalibodha)
- Vọng niệm về xây cất (Kammapalibodha)
- Vọng niệm về năm sự bận rộn của việc đi đường (Addhānapalibodha)
- Vọng niệm về quyến thuộc (Ñatipalibodha)
- Vọng niệm về bệnh tật (Ābādhapalibodha)
- Vọng niệm về điều học (Ganthapalibodha)
- Vọng niệm về sự chứng đắc thần thông (Iddhipalibodha)
Thân cận thiện hữu:
Piyo garu bhāvanīyo vattā ca vacanakkhamo Gambhīrađca kathaṃ kattā no cāṭṭhāṇe miyojaye
Người mà hành giả xem là một thiện hữu cần thân cận, phải đầy đủ những đức tính sau:
- Piyo: Là người đáng được kính mến vì giới hạnh.
- Garu: Đáng được kính trọng vì là người có giới, định và thọ trì pháp đầu đà.
- Bhāvanīyo: Đáng được tán thán vì đức tính công bằng, không thiên vị đối với đồng phạm hạnh hay người đệ tử.
- Vattā: Có khả năng hướng dẫn tốt đệ tử.
- Vacanakkhamo: Sẵn sàng tiếp nhận những lời khuyên bảo của những vị đồng phạm hạnh hay thậm chí là đệ tử.
- Gambhīrañca kathaṃ kattā: Có khả năng giảng giải những lý pháp thâm sâu, như về danh sắc, ngũ uẩn, Tứ Thánh đế, lý duyên sinh, tam tướng... một cách rõ ràng.
- Aṭṭhāṇe no ca niyojaye: Không làm những việc vô ích, lãng phí dù là một lần, chỉ làm những điều đem lại lợi ích cho chính mình và cho Phật giáo.
Bảy tiêu chuẩn này cần có với bất kỳ môn đồ Phật giáo và càng không thể khiếm khuyết đối với người trong vai trò chỉ dạy thiền định cho kẻ khác. Riêng đối với một người hành giả cần nên thân cận với một thiện hữu như thế.
Việc học hỏi về án xứ tu tập (Phần này sẽ được giải sau ở phần Sappāyabheda tiếp theo).
Những trú xứ không thích hợp cho vị hành giả:
Vị hành giả phải tránh những trú xứ sau đây:
- Mahāvāsaṃ: Trú xứ quá rộng lớn.
- Navāvāsaṃ: Trú xứ mới xây cất.
- Jarāvāsaṃ: Trú xứ đã mục nát, hư đổ.
- Panthanissitaṃ: Gần đường qua lại.
- Soṇdī: Trú xứ gần bến nước.
- Paṇṇaṃ: Trú xứ gần vườn cây.
- Pupphaṃ: Trú xứ gần vườn hoa.
- Phalaṃ: Trú xứ gần vườn quả trái.
- Patthanīyatā: Trú xứ gần hội trường.
- Nagarasannissitā: Trú xứ cận kề đô thị.
- Dārusannissitā: Trú xứ gần những khu rừng nơi đốn củi.
- Khettasinnissitā: Trú xứ kề cận ruộng đồng.
- Visabhāgānaṃ puggalānaṃ: Cùng trú xứ với người đối nghịch.
- Pattanassannissitā: Trú xứ gần bến cảng hay gần những điểm hội đông người.
- Paccantasannissitā: Những nơi mà ở đấy dân chúng không tin Phật giáo.
- Rajjasīmasannissitā: Trú xứ cận biên giới, nơi có sự quan tâm của Đức vua.
- Asappāyatā: Trú xứ không thuận lợi vì mải thấp thỏm, lo sợ bọn cướp, dạ xoa.
- Kaḷyāṇamittānaṃ alābho: Những nơi không có thiện hữu.
Với vị hành giả cần tránh những trú xứ như trên, cũng như bánh xe cần tránh những khúc đường nhiêu khê, đổ nát. Do đó, các Ngài A Xà Lê viết những điều trên bằng đoạn tóm tắt trong
Visuddhimaggatthakathā như vầy:
| Mahāvāsaṃ navāvāsaṃ | Jarāvāsaṃ ca panthanī
| Soṇḍiṃ paññañca pupphañca | Phalaṃ paṭṭhitameva ca
| Nagaraṃ dārunākhettaṃ | Visabhāgena pattanaṃ
| Paccantasīmāsappāyaṃ | Yattha mitto na labbhati
| Atthāvasetāni ṭhānami | Iti viññāya paṇḍito
| Āvakā parivajjeyya | Maggaṃ paṭibhayaṃ yathāti | | | | | |
Những trú xứ thích hợp cho vị hành giả:
Điều này Đức Thế Tôn thuyết rằng:
“Kathañca bhikkhave senāsanaṃ pañcaṅgasannannāgataṃ hoti idha bhikkhave senāsanaṃ”
“Này chư Tỳ kheo, một trú xứ cần phải hội đủ năm chi phần này. Thế nào là năm, đó là:
- Nātidūraṃ hoti naccāsannaṃ gamanāgamanasampannaṃ:
Nơi thuận tiện cho việc đi lại, tức là không quá xa hay quá gần xóm làng.
- Divā appokiṇṇaṃ rattiṃ appasaddaṃ appanigghosaṃ:
Nơi thanh tịnh vắng vẻ, ban ngày không ồn ào, ban đêm được thanh vắng yên tịnh.
- Appadaṃsamakasavātatapasarīsapasamphassaṃ hoti:
Trú xứ không có côn trùng, muỗi mồng, gió nắng.
- Tsamiṃ kho pana senāsane viharaṇtassa apakasireneva uppajjanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagīlanapaccayabhesajjaparikkhārā:
Ở những nơi đầy đủ vật dụng: y phục, vật thực, trú xứ và thuốc trị bệnh dễ dàng, không phải bận rộn tìm kiếm.
- Tasmiṃ kho pana senāsane therābhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadhanā mātikādharā te kālena kālaṃ upasaṅkamitvā paripucchati paripaṇhati “idaṃ bhante kathaṃ imassa ko attho” ti tassa te āyasmanto avivaṭaṃ ceva vivaranti anuttānīkatañca uttānīkaronti anekavihitesu ca kaṅkhaṭṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṃ paṭivinodenti:
Tại nơi trú xứ có những vị Tỳ kheo Trưởng lão đa văn, giữ pháp, trì Luật, suốt thông mọi yếu lý (mātikā) giáo điển, là chỗ nương dựa. Vị hành giả nếu có ngờ vực, phân vân, hãy đi đến những vị này trong những thời phải lúc và bạch rằng: “Thưa Tôn giả, điều này là sao? Nghĩa pháp như thế nào?” Những vị Tỳ kheo ấy sẽ phơi bày những điều chưa được hiển lộ bởi nghi hoặc, sẽ tiêu trừ những ngờ vực đối với giáo pháp.
Evaṃ kho bhikkhave senāsanaṃ pañcaṅgasammannā gataṃ hoti.
Này chư Tỳ kheo! Đây là năm chi phần của trú xứ thích hợp.
Những chi phối nhỏ nhặt
(hay nhược tiểu quán niệm –
khuddakapalibodha)
Hành giả cần phải làm những việc nhỏ nhặt sau đây để khỏi bận tâm lo nghĩ khi đang hành án xứ:
- Dīghāni kesanakhalomāni chinditabbāni:
Cắt móng tay, chân, cạo cắt râu tóc (nếu thấy cần)
- Tiinacīvaresu daḷlūkammaṃ vā tunnakammaṃ vā kātabbaṃ:
Cần khâu vá y phục nếu thấy cũ rách.
- Kiliṭṭhāni cīvarāni rajitabbāni:
Y phục phai màu cần phải nhuộm sắc.
- Sace patte malaṃ hoti patto pacitabbo:
Cần tẩy sạch nếu bát hen rỉ.
- Mañcapīthādīni so dhetabbāni:
Giường ghế nên lau chùi sạch sẽ.
Đây là những điều nhỏ nhặt nhưng cần tránh đối với vị hành giả trước khi hành án xứ, vì đó sẽ có thể làm chi phối, phóng đáng trong khi đang hành trì.
Bản nguồn: CHỈ TỊNH MINH GIẢI
SAMĀDHA KAMMAṬṬHĀNA
Người dịch: Sư Pháp Nhiên
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.
© www.tudieu.de