|
Lục Độ hay Thập Độ? (pāramī) Phật giáo bắc truyền thường liệt kê 6 ba-la-mật trong khi nam truyền thì kể ra tới 10. Mười ba-la-mật gồm:
Mười ba-la-mật có thể được rút gọn bằng cách gom nhóm những ba-la-mật có bản chất liên quan lại với nhau, thành 6 (tức là lục độ):
Rút gọn như thế nào? Xuất gia (nekkhamma) có nghĩa là sống đời khổ hạnh, thiền định và công đức nói chung. Ở đây, xuất gia bằng cách sống đời khổ hạnh nên được xem là giới ba-la-mật vì chúng có bản chất tương tự nhau; Cũng vậy, xuất ly qua thiền định, thoát khỏi các chướng ngại (nīvaraṇa) nên được xem là thiền định ba-la-mật (jhāna-pāramī); và xuất ly được xem như công đức thuộc về tất cả sáu ba-la-mật. Chân thật có ba loại: lời nói chân thật (vacī-sacca); tránh nói dối (virati-sacca) là tâm sở chánh ngữ (sammā-vācā); và trí tuệ chân thật (ñāṇa-sacca) là tâm sở trí tuệ (paññā). Do đó, lời nói chân thật và tránh nói dối liên quan đến giới nên được xem là giới hạnh ba-la-mật; trí tuệ chân thật trí tuệ ba-la-mật. Từ bi ba-la-mật (mettā-pāramī) có bản chất tương tự như thiền định ba-la-mật, do đó được bao gồm trong tất cả ba-la-mật. Tâm xả ba la mật (upekkhā-pāramī) bao gồm các pháp đi kèm là trung tính đặc thù (tatra-majjhattatā) và trí tuệ (paññā); trung tính đặc thù nên được tính là thiền định ba la mật (jhāna-pāramī) và cũng là một pháp đi kèm của trí tuệ (paññā), giống như trí tuệ bình thản (ñāṇupekkhā), nên được tính là trí tuệ ba la mật. Phát nguyện ba la mật (adhiṭṭhāna-pāramī) nên được bao gồm trong tất cả sáu pháp ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Sự phát nguyện quyết tâm trong việc thực hiện bố thí nên được tính là bố thí ba la mật; tương tự, quyết tâm trong các vấn đề liên quan đến giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ nên được bao gồm trong các pháp ba la mật tương ứng của chúng. (dịch từ ancient-buddhist-texts.net) |