|
Ba-la-mật (pāramīs) Ba-la-mật (pāramīs) là một tập hợp mười đức hạnh được tu tập để tiến triển trên con đường đến Niết-bàn, giải thoát khỏi đau khổ (dukkha). Kinh Buddhavaṃsa, một bổ sung sau này vào Kinh điển Pāli, giải thích rằng Mười Ba-la-mật được vị Bồ Tát, một vị Phật tương lai, tinh thông qua nhiều kiếp sống, để đạt được sự chứng đắc Phật quả. Mười sự hoàn hảo (pāramīs) là: 1. Bố thí (dāna pāramī), 2. Giới hạnh (sīla pāramī), 3. Xuất gia (nekkhamma pāramī), 4. Trí tuệ (paññā pāramī), 5. Tinh tấn (viriya pāramī), 6. Nhẫn nhục (khanti pāramī), 7. Chân thật (saccā pāramī), 8. Quyết tâm (adhiṭṭhāna pāramī), 9. Tâm từ (mettā pāramī) và 10. Xả (upekkhā pāramī). Trong Kinh Trung Bộ (Bản dịch của Tỳ Kheo Bodhi biên dịch, Chú thích 763) có từ Abhiññāvosānapāramippatta được giải thích là sự chứng đắc quả A-la-hán. Đây có lẽ là điểm duy nhất mà từ pāramī được nêu lên trong bốn bộ Nikāya. Trong văn học Nguyên Thủy sau này, có lẽ bắt đầu từ những tác phẩm như Buddhavaṁsa, từ pāramī này được dùng để chỉ những đức hạnh hoàn hảo mà một vị Bồ Tát phải thực hành qua nhiều kiếp sống để đạt đến quả vị Phật. Bhadantacariya Buddhaghosa viết trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga, Chương IX) rằng thông qua việc phát triển Tứ Vô Lượng (brahmavihāra), còn gọi là Tứ Phạm Trú, hành giả sẽ tu tập được Thập Ba La Mật. Bốn vô lượng tâm là:
Các bậc Đại Nhân giữ được sự quân bình của tâm thức bằng cách đặt ưu tiên cho hạnh phúc của chúng sinh, bằng cách không thích sự đau khổ của chúng sinh, bằng cách mong muốn những thành tựu của chúng sinh được trường tồn, và bằng cách công bằng với tất cả chúng sinh. Đối với tất cả chúng sinh, các ngài hoan hỷ ban tặng những món quà mà không có ý phân biệt như: "Phải cho người này; không được cho người kia." Và để tránh làm hại chúng sinh, các ngài thọ trì giới luật. Các ngài thực hành sự từ bỏ với mục đích hoàn thiện đức hạnh. Các ngài thanh lọc trí tuệ để không nhầm lẫn những điều tốt và xấu cho chúng sinh. Các ngài thường xuyên khơi dậy năng lượng, luôn đặt hạnh phúc và an lạc của chúng sinh làm trọng tâm. Trong cuốn Từ điển Phật giáo: Cẩm nang Thuật ngữ và Giáo lý Phật giáo, Nyanatiloka Thera đã làm rõ thêm cho bài viết trên của Buddhaghosa (trang 247-249). Những phẩm chất này [ba la mật] đã được Bồ tát phát triển và thành tựu trong nhiều kiếp trước, như đã được minh họa trong nhiều Truyện Tiền thân (Jātaka), tuy nhiên, chỉ có những câu kệ được coi là kinh điển. Vism IX 124 có nói rằng thông qua việc phát triển bốn trạng thái tâm cao thượng (brahmavihāra: từ, bi, hỷ, xả), người ta có thể đạt được mười ba la mật này. Vì các bậc Đại nhân (mahā-satta; một từ đồng nghĩa thường thấy trong kinh điển Đại thừa chỉ Bồ tát (q.v.), tức là ‘Bậc Giác Ngộ hay Bậc được định sẵn để thành Phật’) quan tâm đến hạnh phúc của chúng sinh, không dung túng sự đau khổ của chúng sinh, mong muốn chúng sinh được hưởng lâu dài những trạng thái hạnh phúc cao hơn, và bình đẳng, công bằng với tất cả chúng sinh, từ đó:
Mười Ba La Mật không phải là những đức tính riêng lẻ mà là một mạng lưới đan xen, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau, mỗi đức tính đều góp phần vun đắp những phẩm chất tốt đẹp cần thiết để rèn luyện tâm trí được an lạc và thoát khỏi đau khổ. Mỗi ba-la-mật hỗ trợ, củng cố và tăng cường lẫn nhau, chúng không được phát triển riêng lẻ, và cả mười ba-la-mật đều phải được phát triển đồng loạt. Thực hành một ba-la-mật cụ thể dẫn đến sự phát triển của các ba-la-mật khác. Ví dụ, thực hành bố thí (dāna) hỗ trợ sự phát triển của tâm từ (mettā). Tâm từ khơi dậy sự thực hành bố thí và nhẫn nhục (khanti). Khi sự thực hành bố thí tăng lên, các phẩm chất của sự nhẫn nhục và từ bi cũng tăng lên, và ngược lại. Trí tuệ (pañña) là điều thiết yếu để hiểu những cách thức thích hợp để thực hành bố thí và hành vi đạo đức (sīla). Tương tự, việc vun trồng sự nhẫn nhục (khanti) sẽ hỗ trợ sự phát triển của trí tuệ và hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức và sự chân thật (sacca) hỗ trợ sự phát triển của trí tuệ (pañña). Nếu không rèn luyện tâm trí trong hành vi đạo đức, theo đuổi và trân trọng chân lý, sẽ khó có thể trải nghiệm được những hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm của thực tại tục đế và chân đế. Nhẫn nhục cũng hỗ trợ sự phát triển của trí tuệ bằng cách cho phép tâm trí bình tĩnh quan sát và hiểu các trải nghiệm mà không có phản ứng nhanh nhẩu tức thời. Trong quá trình thiền định phải có sự thực hành và phát triển đồng thời các đức tính như bố thí, nhẫn nại, quyết tâm và chánh niệm. Sự phát triển và thành thạo các ba la mật là một quá trình tiến triển dần dần, sâu sắc và trưởng thành theo thời gian. Ví dụ, khi sự hiểu biết về trí tuệ trở nên sâu sắc hơn, nó sẽ củng cố quyết tâm (adhiṭṭhāna) để thực hành Bát Chánh Đạo (ariya aṭṭhaṅgika magga) với sự kiên định ngày càng tăng. Thông thường, một số ba la mật được nhấn mạnh tuần tự hơn những ba la mật khác. Trong một giai đoạn nào đó, một thời gian hoặc một kiếp sống nào đó, tâm trí có thể thấy thoải mái hoặc tự tin để phát triển một số ba la mật nhất định và không cảm thấy thoải mái khi trau dồi các ba la mật khác. Ví dụ, tâm trí có thể có xu hướng nhấn mạnh vào việc trau dồi bố thí (dāna) và đạo đức (sīla) trước khi tâm trí được chuẩn bị để tập trung hoàn toàn vào việc phát triển trí tuệ (paññā) và quyết định (adhiṭṭhāna). Sự phát triển các ba la mật được hỗ trợ bằng cách kết hợp chúng vào các hoạt động và mối quan hệ hàng ngày với chánh niệm (sati). Việc rèn luyện tâm trí được tăng cường thông qua việc thực hành liên tục và phát triển các ba la mật bên ngoài những lúc thiền định chính thức. Mười Ba La Mật là những phẩm chất cần được phát triển tối đa bởi bất kỳ ai đang nỗ lực hướng đến giải thoát Niết Bàn. _______________ dịch từ bài viết của Ajahn Kumāro Bhikkhu ⇒ bản tiếng Anh (PDF) Kalyāṇa-Mitta Meditation Center January 2024 Newsletter mittameditation.com mittameditation@gmail |