|
Xuất-gia ba-la-mật (nekkhammapāramī) Xuất-gia Ba-la-mật (Nekkhamma-pāramī) là một trong Mười Pháp Ba-la-mật, thể hiện sự từ bỏ lạc thú thế gian, dính mắc và những suy nghĩ tiêu cực (như dục vọng, sân hận, hại người) để đạt đến bờ giác ngộ, giải thoát, được thực hành bằng cách từ bỏ đời sống gia đình, trở thành người tu sĩ), phát triển Tứ Niệm Xứ, hướng đến sự an lạc, Niết bàn. Xuất gia là hành động từ bỏ cuộc sống thế tục (vợ con, tài sản, hưởng thụ) để tu hành, chuyên tâm vào con đường tâm linh. Xuất gia (Nekkhamma) trong Mười Pháp: Bao gồm việc từ bỏ những cám dỗ, dục vọng và suy nghĩ bất thiện, không chỉ giới hạn trong việc cạo tóc đi tu mà còn là sự buông bỏ thực sự của nội tâm. Xuất gia đối trị phiền não, giúp tu sĩ đối trị các chướng ngại tinh thần như tham lam, sân si, lười biếng, đưa đến trạng thái thanh tịnh. Xuất-gia Ba-la-mật là một pháp tu quan trọng, thực hành sự buông bỏ toàn diện trên cả phương diện vật chất và tinh thần, là bước đệm đưa hành giả đến sự giác ngộ cao hơn trong Phật giáo. Xuất gia là ý định lành mạnh của tâm trí nhằm từ chối, phủ nhận hoặc buông bỏ một điều gì đó bất thiện. Một tâm trí thiện lành và thiện xảo cam kết với sự rèn luyện dẫn đến giải thoát khỏi sự dính mắc vào dục vọng và thèm muốn bởi vì sự dính mắc vào của cải và lạc thú của giác quan dẫn đến đau khổ (dukkha), và sự tách rời khỏi chúng sẽ dẫn đến sự giải thoát khỏi đau khổ. Xuất gia (nekkhamma = từ bỏ) là buông bỏ bất cứ điều gì trói buộc tâm trí bởi những phiền não (kilesa) của vô minh (avijjā), tham lam (lobha), và sân hận (dosā); và từ bỏ những gì tiếp tục gây ra đau khổ và kéo dài sự tồn tại trong vòng luân hồi sinh, lão, bệnh, tử và tái sinh (saṃsāra). Mọi thứ trên thế gian, dù là vật chất hay phi vật chất, đều vô thường (anicca). Khi tâm trí bám víu hoặc đồng nhất với bất cứ vật thể gì vô thường sẽ đau khổ do bản chất biến đổi, mục nát và biến mất của vật đó. Vật chất gồm các giác quan, đối tượng của các giác quan và các lạc thú liên quan; những thứ này là vô thường, chúng sinh ra, thay đổi và biến mất. Phi vật chất là quan điểm, khái niệm, ý kiến, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác và nhận thức; những thứ này cũng vô thường, chúng sinh ra, thay đổi và biến mất. Đức hạnh xuất gia được vun trồng bằng cách không bám víu hay đồng nhất với bất kỳ vật chất hay phi vật chất nào. Giải thoát khỏi tham ái và bám víu (thủ) vào những gì vô thường sẽ dẫn đến sự giải thoát khỏi đau khổ và chứng ngộ Niết bàn. Do bản chất vô thường của lạc thú từ giác quan và cũng do tâm bất thiện mắc nghiện vào lạc thú, tâm không bao giờ thỏa mãn với những lạc thú sẵn có và liên tục tìm kiếm ngày càng nhiều lạc thú hơn. Do cảm giác thiếu thốn, không có đủ lạc thú khiến tâm không ngừng tìm kiếm những lạc thú khác, nhiều hơn, lớn hơn. Những trải nghiệm lạc thú tạm thời dẫn đến sự thôi thúc tìm kiếm thêm nhiều lạc thú hơn nữa, và cố gắng một cách vô ích để sở hữu và bảo vệ những trải nghiệm chắc chắn là vô thường đó. Cảm giác thiếu thốn và sợ mất mát khiến tâm trí phát điên và đau khổ tột cùng. Xuất gia hay từ bỏ chính là liều thuốc giải cho sự điên rồ đó. Ngoài việc từ bỏ sự nghiện ngập dục lạc, tâm thiện còn từ bỏ khái niệm về ngã hay bản ngã, dẫn đến trí tuệ giải thoát, nhổ tận gốc rễ mọi ô nhiễm. Đức Phật định nghĩa ngã là cái thường hằng và không vô thường, và ngã cũng phải có toàn quyền kiểm soát và quyền năng đối với những gì được nhận thức là ngã. Giáo lý vô ngã (anattā) là sự hiểu biết rằng cá nhân được cấu thành bởi Năm Thủ Uẩn, tất cả đều vô thường và không có sự kiểm soát hay quyền năng hoàn toàn đối với các uẩn, do đó các uẩn không phải là một ngã. Năm Thủ Uẩn (pañcupādānakkhandhā) là những thành phần tạo nên trải nghiệm về ngã và thế giới.
Có ba cấp độ buông bỏ.
Thực hành xuất gia không phải là phủ nhận những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại về thể chất và tinh thần mà là phát triển sự mãn nguyện và không bám víu vào những nhu cầu cơ bản. Việc vun trồng sự hài lòng là thấy đủ với những tài sản mình đang có, và hiểu rằng sự bình an và hạnh phúc không đến từ việc tích lũy của cải vật chất hay chạy theo những thú vui nhục dục. Một lối sống bình dị và tối giản có thể giúp phát triển sự hài lòng với những nhu cầu cơ bản. Sự phát triển của sự buông bỏ về tinh thần và cảm xúc là quá trình quan sát những suy nghĩ và cảm xúc (nội dung của ý thức) mà không bị vướng mắc vào chúng thông qua việc hiểu được bản chất vô thường và vô ngã của chúng. Nội dung của ý thức, Ngũ Uẩn, giống như những đám mây trôi qua tâm trí. Khi những đám mây (nội dung) lắng xuống, ánh sáng rực rỡ và chói lọi của mặt trời (ý thức) sẽ có thể xuất hiện mà không bị cản trở. Sự chân thành và cam kết rèn luyện tâm trí để giải thoát khỏi đau khổ là ưu tiên việc phát triển các đức tính được xác định bởi Mười Ba La Mật (pāramī) hơn là lợi ích vật chất, danh vọng, lời khen ngợi hoặc những thú vui nhục dục. Bằng cách hoàn thiện đức hạnh từ bỏ, tâm trí sẽ thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau (saṃsāra) bằng cách dần dần giảm bớt ảnh hưởng của tham ái, bám víu và ràng buộc. Sự hoàn thiện của từ bỏ là một điều kiện phát triển một tâm trí an tĩnh, từ bi và tập trung vào mục tiêu giải thoát (nibbāna). Xuất gia là một trong ba loại Chánh tư duy (sammā-saṅkappa), nhánh thứ hai của Bát Chánh Đạo. Chánh tư duy là những tư duy thiện, gổm:
Nói theo nghĩa tích cực hơn thì Chánh Tư Duy gồm
Sự Xuất Gia ba-la-mật (nekkhamma pāramī) được cân bằng và hỗ trợ bởi các sự xuất gia ba-la-mật khác. • Xuất gia (nekkhamma) được cân bằng bởi sự kham nhẫn (khanti) bởi vì kham nhẫn cho phép tâm trí chịu đựng và chế ngự những thử thách phát sinh từ sự buông bỏ các chấp thủ. • Vô ngã và buông bỏ các hiện tượng vô thường, những trạng thái tối thượng của các bậc Thánh, được phát triển cùng với sự từ bỏ chấp thủ và bố thí ba-la-mật (dāna pāramī). Xuất gia là buông bỏ và bố thí là chia sẻ, cùng nhau tạo thành một kỹ năng để chế ngự bản ngã vô minh, và để vun trồng vô ngã và vô tham. Động lực trong sự xuất gia là buông bỏ mà không mong đợi bất cứ sự đáp trả nào cũng là điều cần thiết để hoàn thiện bố thí ba-la-mật. • Sự xuất gia phải được dẫn dắt bởi Trí tuệ ba-la-mật (paññā pāramī) để tránh sự chán ghét thế gian. Sự xuất gia cần được cân bằng với trí tuệ thông qua sự hiểu biết rằng tâm trí lành mạnh có thể giao tiếp với thế giới mà không dính mắc hay đồng hóa. Nếu không có trí tuệ, sự xuất gia có thể bị thúc đẩy bởi những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, chán nản hoặc thất vọng. Tâm lý trốn tránh sẽ đẩy thế giới ra xa mà không hiểu được những nguy hiểm tiềm ẩn trong đó. Sự chán ghét tạo ra xung đột nội tâm, khiến việc xuất gia khó duy trì về lâu về dài. Tâm trí thiếu trí tuệ sẽ khao khát những gì nó cần ghét bỏ, dẫn đến thất vọng và tiềm ẩn nguy cơ tái nghiện. Tâm trí không sáng suốt sẽ từ chối mọi thú vui nhục dục, của cải vật chất hoặc các mối quan hệ và cố gắng tồn tại trong sự cô lập hoàn toàn do quan điểm sai lầm rằng hạnh phúc và bình an sẽ thành tựu khi hoàn toàn không có mối quan hệ với bất cứ điều gì hoặc bất cứ ai. Tâm trí như vậy là hoang tưởng và gây thêm sự sợ hãi với thế giới. Thay vào đó, tâm trí sáng suốt sẽ giao tiếp với thế giới bằng trí tuệ, có thể hưởng thụ những thú vui nhục dục, của cải vật chất và các mối quan hệ mà không thèm muốn, bám víu, nắm giữ, thu gom hoặc đồng hóa mình với những thứ đó. Tâm trí thiếu sáng suốt khi trải qua những thách thức của cuộc sống hàng ngày như sự căng thẳng, xung đột và thất vọng sẽ cố gắng trốn tránh đau khổ bằng cách rút lui thông qua sự từ bỏ triệt để và không tham gia vào cuộc sống. Ngược lại, tâm trí sáng suốt đối mặt với cả những cảm giác khó chịu lẫn thoải mái bằng sự hiểu biết rằng những cảm xúc ấy sinh khởi, thay đổi và diệt vong là do các điều kiện vô thường, và sẽ không nắm giữ hay đồng nhất với bất kỳ cảm xúc nào. Tâm trí thiếu sáng suốt khi thất vọng vì không đạt được của cải vật chất, danh vọng hay sự công nhận, sẽ từ bỏ thế gian để tránh phiền muộn và suy thoái của bản ngã từ sự mất mát đó. Tâm trí sáng suốt không tự sở hữu mình với của cải vật chất, danh vọng hay sự công nhận, nên sẽ không thất vọng khi chúng không xuất hiện hoặc biến mất. Tâm trí thiếu sáng suốt không hiểu được bản chất tuần tự của tiến trình trên con đường giải thoát khỏi đau khổ (Niết bàn), nên có thể sẽ xuất gia thế gian quá hấp tấp, đến mức dẫn đến một tâm trí không lành mạnh và mất cân bằng, trở thành một trở ngại trên con đường tu tập. Một người có tâm trí sáng suốt hiểu được rằng việc tu tập là tiệm tiến, và biết khi nào hợp thời để xuất gia và phải từ bỏ điều gì; người tu tập ấy sẽ tham khảo ý kiến của những người bạn tâm linh có kinh nghiệm về xuất gia. Tâm trí thiếu sáng suốt sẽ cố gắng thực hành khổ hạnh cực đoan và chối bỏ thân xác, gây nguy hiểm cho sự sống còn của thể xác. Đây là một hiểu biết sai lầm về sự từ bỏ. Tâm sáng suốt hiểu được giáo lý Trung Đạo của Đức Phật và không tu tập khổ hạnh cực đoan cũng không đắm chìm trong sự thỏa mãn nhục dục. Trung Đạo là sự cân bằng giữa sự từ bỏ và sự dấn thân vào thế gian. Tâm trí thiếu sáng suốt đang tìm kiếm sự chuyển hóa triệt để hoặc một sự đoạn tuyệt mạnh mẽ với quá khứ, một mong muốn thay đổi sâu sắc về bản sắc và lối sống, sẽ thực hành sự từ bỏ cực đoan. Tâm trí sáng suốt an trú trong sự hiểu biết về vô ngã, tĩnh tịnh, im lặng và bình an, và không tìm kiếm bất kỳ bản ngã nào. Xuất gia là một lựa chọn có ý thức, giải thoát tâm trí khỏi sự kìm kẹp của tham ái và bám víu, dẫn đến tự do và giải thoát, dựa trên sự hiểu biết về tính vô thường và bất toại nguyện của các hiện tượng thế gian, mà không phủ nhận hay trừng phạt tâm trí của mình hay rút lui khỏi thế gian. Với trí tuệ, tâm trí phát triển sự bình thản (upekkhāpāramī), một trạng thái tâm bình thản đối với những trải nghiệm dễ chịu và khó chịu. Sự chán ghét nhường chỗ cho sự hiểu biết và lòng từ bi đối với những đau khổ không thể tránh khỏi vốn có trong hiện hữu. Sự hiện diện của trí tuệ cho phép tâm trí hiểu được lợi ích của sự xuất gia và biết được phải buông bỏ cái gì, khi nào và như thế nào. Thế gian không nên được xem là kẻ thù, mà là cơ hội để thực hành trí tuệ và lòng từ bi. Nuôi dưỡng trí tuệ là ánh sáng dẫn đường cho sự xuất gia: trí tuệ chuyển hóa sự từ bỏ từ một hành động né tránh tiêu cực thành một con đường tích cực hướng tới giải thoát. |