Trí-tuệ ba-la-mật (paññāpāramī)
Tám nhân phát sinh trí-tuệ- Nương nhờ, cung kính, phục vụ đạo sư, minh sư.
- Lắng nghe chánh pháp.
- Hiểu rõ những pháp được nghe.
- Trì giới.
- Đa văn túc trí. Học nhiều biết rộng hiểu sâu.
- Chánh tinh-tấn. Không ngừng diệt các bất-thiện-pháp, tăng trưởng mọi thiện-pháp.
- Chánh ngữ. Không nói chuyện nhảm, không nói lời vô ích khi thuyết hoặc thỉnh pháp.
- Thực hành Thiền Tuệ. Thấy rõ biết rõ sự sanh diệt của ngũ uẩn.
Trí-Tuệ có ba loại- Sutamayapaññā: Trí-tuệ phát sinh do nghe từ các bậc thiện-trí, do học hỏi, nghiên cứu chánh-pháp.
- Cintāmayapaññā: Trí-tuệ phát sinh do suy xét, tư duy sâu sắc đúng đắn theo chánh-pháp.
- Bhavanāmayapaññā: Trí-tuệ thiền-tuệ phát sinh do thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến phát sinh trí-tuệ thiền-tuệ tam-giới cho đến trí-tuệ thiền-tuệ siêu-tam-giới đó là bốn Thánh-đạo-tuệ và bốn Thánh-quả-tuệ.
Chánh Pháp là 37 pháp trợ đạo, gồm:- 4 pháp niệm-xứ (Satipaṭṭhāna): thân, thọ, tâm, pháp
- 4 pháp tinh-tấn (Samappadhāna): thận, trừ, tu, bảo
- 4 pháp thành-tựu (Iddhipāda): dục, cần, tâm, thẩm
- 5 pháp quyền (Indriya): tín, tấn, niệm, định, tuệ
- 5 pháp lực (Bala): tín, tấn, niệm, định, tuệ
- 7 pháp giác-chi (Bojjhaṅga): niệm, tuệ, cần, hỷ, tịnh, định, xả
- 8 pháp chánh-đạo (Magga): ngữ, nghiệp, mạng, cần, niệm, định, tư duy, kiến
Trí-tuệ ba-la-mật là trí-tuệ tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ sáng suốt thấy rõ, biết rõ thật-tánh của tất cả mọi sắc-pháp, mọi danh-pháp.
Trí-tuệ vốn có đối với các hạng người tam-nhân (tihetukapuggala) từ khi đầu thai làm người trong lòng mẹ, cho nên, khi sinh ra đời, tuy còn thơ ấu, nhưng đứa bé có trí-tuệ hiểu biết đặc biệt xuất sắc hơn người, bởi vì trong vô số tiền-kiếp của đứa bé đã từng tích-luỹ nhiều trí-tuệ hiểu biết trong những kiếp quá-khứ, nên kiếp hiện-tại này là quả của đại-thiện-nghiệp mà những tiền kiếp của đứa bé đã tạo và đã được tích-lũy và được lưu trữ ở trong tâm của đứa bé ấy. Cho nên, đứa bé có trí-tuệ hiểu biết đặc biệt xuất sắc hơn người, đó là sự-thật hiển nhiên, sự-thật này đối với bậc thiện-trí chỉ có tin nghiệp và quả của nghiệp mà thôi.
Đức-Phật dạy về nghiệp và quả của nghiệp như sau:
“Kammassako’mhi, kammadāyādo, kammayoni, kammabandhu, kammappaṭisaraṇo, yaṃ kammaṃ karissāmi kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā, tassa dāyādo bhavissāmi.”
Ta có nghiệp là của riêng ta, ta là người thừa hưởng quả của nghiệp của ta, nghiệp là nhân sinh ra ta, nghiệp là bà con thân quyến của ta, nghiệp là nơi nương nhờ của ta. Ta tạo thiện-nghiệp hoặc ác-nghiệp nào ta sẽ là người thừa hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp ấy hoặc quả khổ của ác-nghiệp ấy.
(AN 5.57. Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhānasutta - KTC 5 pháp 5.57. Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
(dựa theo sách NỀN-TẢNG-PHẬT-GIÁO QUYỂN VII PHÁP-HẠNH BA-LA-MẬT 2 - TỲ-KHƯU HỘ-PHÁP)
|