A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

⇐ 10 pháp hạnh ba-la-mật

Phát-nguyện Ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)

Phát-nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)

Phát-nguyện Ba-la-mật là một trong 10 pháp hạnh Ba-la-mật (Pāramitā) quan trọng trong Phật giáo, là "hành động phát nguyện", "lời thề nguyện" và "sự kiên trì" để đạt đến bờ giải thoát (Đáo bỉ ngạn) khỏi luân hồi sinh tử, khổ đau, bao gồm cả việc phát nguyện giữ gìn giới luật, tu tập và thực hành Bồ-tát đạo một cách vững chắc và chân thật nhất.

Phát-nguyện: Là sự quyết tâm, lời hứa, và việc thực hiện lời hứa đó một cách kiên định, không xao lãng, để hoàn thành mục tiêu tâm linh. Nó đòi hỏi hành giả không chỉ phát nguyện mà còn phải kiên trì giữ lời nguyện đó, không bị chướng ngại bởi phiền não hay điều kiện bên ngoài, để đạt đến sự viên mãn của Bồ-tát đạo.

Phát-nguyện Ba-la-mật là pháp thực hành phát nguyện và giữ gìn lời nguyện một cách trọn vẹn, là một phần thiết yếu trên con đường Giác ngộ.

____________


Phát-nguyện ba-la-mật đó là đại-thiện-tâm có quyết tâm không lay chuyển, giữ gìn lời phát nguyện chân thật của mình. Dù gặp hoàn cảnh nào vẫn không thoái chí nản lòng, quyết tâm tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật của mình cho được thành tựu.

Mỗi chúng-sinh trong vòng sinh tử luân-hồi từ vô thủy trải qua vô số kiếp trong quá-khứ cho đến kiếp hiện-tại này, mỗi người trong chúng ta tin chắc rằng không có một ai mà không từng sinh trong cõi địa-ngục, a-su-ra, ngạ quỷ, súc-sinh.

Nếu có người thiện-trí nào trong chúng ta, nhớ lại được tiền-kiếp của mình, hoặc tin nghiệp và quả của nghiệp thì người thiện-trí ấy có hiri: biết hổ-thẹn tội-lỗi, có ottappa: biết ghê-sợ tội-lỗi, nên không dám tạo ác nghiệp nào dù nhẹ.

* Người thiện-trí có hiri: biết hổ-thẹn tội-lỗi nghĩa là người thiện-trí ấy có đại-thiện-tâm biết hổ-thẹn đối với mình, nếu mỗi khi nghĩ tạo ác-nghiệp nào thì tự mình biết hổ-thẹn với mình, nên không dám tạo ác-nghiệp tội lỗi ấy, mà cố gắng tránh xa mọi ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, và chỉ có cố gắng tạo mọi phước thiện thuộc về đại-thiện-nghiệp mà thôi.

* Người thiện-trí có ottappa: biết ghê-sợ tội-lỗi nghĩa là người thiện-trí ấy có đại-thiện-tâm biết ghê-sợ đối với người, nếu mỗi khi nghĩ tạo ác-nghiệp nào thì sợ bậc thiện-trí chê trách, sợ ác-nghiệp ấy cho quả khổ trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai, nên không dám tạo ác-nghiệp tội-lỗi ấy, mà cố gắng tránh xa mọi ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, và chỉ có cố gắng tạo mọi phước-thiện thuộc về đại-thiện-nghiệp mà thôi.

Bởi vì người thiện-trí tin nghiệp và quả của nghiệp, tin chắc rằng:

- Nếu ác-nghiệp nào mà mình đã tạo rồi, thì chỉ có ác-nghiệp ấy của mình mới cho quả khổ trong kiếp hiện tại và có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong 4 cõi ác giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh) mà thôi.

- Nếu đại-thiện-nghiệp nào mà mình đã tạo rồi, thì chỉ có đại-thiện-nghiệp ấy của mình mới cho quả an-lạc trong kiếp hiện tại và có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện-dục-giới (cõi người và 6 cõi trời dụcgiới) mà thôi.

Sở dĩ người thiện-trí tin nghiệp và quả của nghiệp là vì người thiện-trí gần gũi thân cận với bậc thiện-trí, cố gắng tinh-tấn theo học hỏi hiểu biết về mọi ác-nghiệp và quả khổ, quả xấu của mọi ác-nghiệp; học hỏi hiểu biết về 4 loại thiện-nghiệp và quả an-lạc, quả tốt của 4 loại thiện-nghiệp từ chư bậc thiện-trí, nên bậc thiện-trí mới tin nghiệp và quả của nghiệp.

Người thiện-trí nào có đức-tin trong sạch nơi Tam bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, người thiện-trí ấy biết hổ thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, nên không dám tạo 10 ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, đồng thời tạo 10 đại-thiện-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý.

Người thiện-trí cố gắng tinh-tấn tạo 10 phước-thiện puññakriyāvatthu.


Pāramī: Pháp-hạnh ba-la-mật có 10 pháp:
  1. Bố-thí ba-la-mật (dānapāramī)
  2. Giữ-giới ba-la-mật (sīlapāramī)
  3. Xuất-gia ba-la-mật (nekkhammapāramī)
  4. Trí-tuệ ba-la-mật (paññāpāramī)
  5. Tinh-tấn ba-la-mật (vīriyapāramī)
  6. Nhẫn-nại ba-la-mật (khantipāramī)
  7. Chân-thật ba-la-mật (saccapāramī)
  8. Phát-nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)
  9. Tâm-từ ba-la-mật (mettāpāramī)
  10. Tâm-xả ba-la-mật (upekkhāpāramī)


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de