A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

⇐ 10 pháp hạnh ba-la-mật

Tâm-xả Ba-la-mật (upekkhāpāramī)

Tâm-xả ba-la-mật (upekkhāpāramī)

Tâm-xả Ba-la-mật (upekkhāpāramī) là một trong các hạnh nguyện Bồ-tát đạo của Phật giáo, là thực hành Tâm Xả (sự vô nhiễm, bình thản, không phân biệt) để đạt bờ giác ngộ (Ba-la-mật, Đáo bỉ ngạn), tức là phát triển tâm hồn thanh tịnh, không bị lay động bởi hỷ (vui sướng), lạc (thích thú), khổ (đau khổ), bất khổ (không đau khổ) hay thế gian được mất, thắng bại, mang lại sự giải thoát thực sự.

Tâm Xả (upekkhā): Là sự trung dung, vô chấp, bình thản trước mọi hiện tượng của cuộc đời, không bám víu vào điều ưa thích (hỷ lạc) cũng không xa lánh điều không ưa thích (khổ). Đó là trạng thái tâm thanh tịnh, không bị xáo trộn bởi nhị nguyên (tốt-xấu, được-mất).
  • Buông bỏ: Không chấp trước vào mọi sở hữu, danh vọng, cảm xúc hay quan điểm cá nhân.
  • Bình đẳng: Nhìn mọi chúng sinh và sự vật với con mắt bình đẳng, không phân biệt thân-sơ, thân-thù.
  • Vô phân biệt: Nhận ra tính không và duyên sinh của mọi hiện tượng, không định kiến hay đánh giá chủ quan.
  • An lạc nội tâm: Giữ cho tâm luôn ở trạng thái thanh tịnh, không bị chi phối bởi thế giới bên ngoài.

Tâm Xả là một trong Tứ Vô Lượng Tâm (Tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả), là một yếu tố quan trọng giúp hành giả tu tập Bồ-tát đạo để đạt được trí huệ và giải thoát.

____________


Tâm-xả ba-la-mật là trung-dung tâm-sở (tatramajjhattatācetasika) đồng sinh với các thiện-tâm có đối tượng chúng-sinh có nghiệp là của riêng mình và thừa hưởng quả của nghiệp mà chính mình đã tạo.

Sabbe sattā kammassakā: Tất cả chúng-sinh đều có nghiệp là của riêng mình.

Thiện nghiệp cho quả tốt, quả an-lạc. Ác-nghiệp cho quả xấu, quả khổ.

Như vậy, mỗi chúng-sinh nào đã tạo đại-thiện-nghiệp nào rồi, chúng-sinh ấy có cơ hội hưởng quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy của mình trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

Mỗi chúng-sinh nào đã tạo ác-nghiệp nào rồi, chúng sinh ấy chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy của mình trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới.

Đức-Bồ-tát tạo pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật với đại thiện tâm trung dung đối với mọi chúng-sinh trước mọi đối-tượng như sau:
  • Đối-tượng chúng-sinh: Đức-Bồ-tát có trung-dung tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm có đối-tượng chúngsinh nào đã tạo đại-thiện-nghiệp hoặc ác-nghiệp rồi, chúng-sinh ấy hưởng quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp của mình hoặc chịu quả khổ của ác-nghiệp của mình.

  • Đối tượng 8 pháp thế-gian: Đức-Bồ-tát có trung-dung tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm không quan tâm đến 8 pháp thế-gian là: được lợi, mất lợi; được danh, mất danh; được khen, bị chê; an-lạc, khổ não; phát sinh trong mỗi chúng-sinh.

Đức-Bồ-tát không hề liên quan đến nghiệp của mỗi chúng-sinh, mỗi chúng-sinh đều có nghiệp là của riêng mình, và thừa hưởng quả của nghiệp như người thừa kế quả nghiệp của mình.

Đức-Bồ-tát có trí-tuệ sáng suốt thấy rõ, biết rõ tất cả các pháp đều là vô-ngã. Tất cả các pháp hữu-vi thuộc tam-giới đều sinh rồi diệt, nên có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, như nhau cả thảy.

Như trường hợp Đức-Bồ-tát đạo-sĩ tạo pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật bậc thượng với đại-thiện-tâm có trung-dung tâm-sở, dù lũ trẻ con tinh nghịch quậy phá như thế nào, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ vẫn không hề phát sinh sân-tâm ghét chúng nó. Và dù những người thiện-trí có đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, đem những đoá hoa, vật thơm, vật thực ngon lành đến cúng dường, Đức-Bồ-tát vẫn không phát sinh tâm-từ thương yêu họ.

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ không hề có tâm thiên vị đối với các chúng-sinh xấu hoặc tốt. Đại-thiện-tâm của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ ví như cái cân không thiên vị bất cứ vật gì dù tốt, dù xấu, dù quý, dù không quý, v.v… cái cân vẫn chỉ đúng theo trọng lượng của vật ấy mà thôi.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

Sukhapatto na rajjāmi, dukkhe na homi dummano. Sabbattha tulito homi, esā me upekkhāpāramī.

Khi sự an-lạc phát sinh, Như-Lai không say đắm. Trong cảnh khổ, Như-Lai không sầu não. Như-Lai cân bằng trong mọi đối-tượng. Đó là pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật bậc thượng của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, tiền-kiếp Như-Lai.

(Majjhimanikāya. Aṭṭhakathā - Mūlapaṇṇāsa)


Pāramī: Pháp-hạnh ba-la-mật có 10 pháp:
  1. Bố-thí ba-la-mật (dānapāramī)
  2. Giữ-giới ba-la-mật (sīlapāramī)
  3. Xuất-gia ba-la-mật (nekkhammapāramī)
  4. Trí-tuệ ba-la-mật (paññāpāramī)
  5. Tinh-tấn ba-la-mật (vīriyapāramī)
  6. Nhẫn-nại ba-la-mật (khantipāramī)
  7. Chân-thật ba-la-mật (saccapāramī)
  8. Phát-nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)
  9. Tâm-từ ba-la-mật (mettāpāramī)
  10. Tâm-xả ba-la-mật (upekkhāpāramī)


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de