A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

12 chi Đạo

Chữ magga - đạo; nghĩa là con đường. Con đường ở đây là hành trình dẫn tới điểm đến nhưng không tạo ra điểm đến. Như con đường dẫn tới dòng sông nhưng không tạo ra dòng sông.

Đạo là một khái niệm lớn trong triết lý và tín ngưỡng của Phương Đông. Người ta dùng chữ nầy thay thế, và chuẩn xác hơn, cho chữ “tôn giáo” như Đạo Phật, Đạo Khổng… Từ cách dùng rất phổ biến trong dân gian cho đến cách sự dụng vô cùng tế nhị trong “đắc đạo, chứng quả” trong Phật Pháp.

Riêng trong Thắng Pháp, chữ đạo ở đây hàm tàng cả hai ý nghĩa vĩ mô về sự điều hướng dẫn đến cả hai cảnh giới vui, khổ. (Giống như khi nói về “thiền chi”. Nếu thiền duyên nói rộng về thiền chi, thì đạo duyên cũng là cách nói rộng về đạo duyên. Điểm nầy được bàn sâu trong phần duyên hệ (paccaya)

Những đạo chi thường biết tới một cách quen thuộc với tám chánh đạo và tám tà đạo. Thế nhưng thay vì mười sáu đạo chi thì ở đây chỉ nêu 12 và về bản thể chỉ nằm trong 9 thuộc tánh. Đây là điểm thú vị khi học Thắng Pháp.
  1. Chánh kiến (sammādiṭṭhi) là thấy biết chân xác, một cách nói khác về trí tuệ. Cao điểm của trí tuệ là khả năng nhìn thấy sự việc qua cả bốn khía cạnh: vấn đề, nguyên nhân, giải pháp, và phương cách đạt tới giải pháp.
  2. Chánh tư duy (sammāsankappa) là sự suy nghĩ trong sáng, không bị vướng vấp bởi ham muốn, bực tức, hiềm hận. Trong Phật học chữ tư duy (sankappa) đồng nghĩa với tầm (vitakka) hay sự hướng tâm.
  3. Chánh ngữ (sammāvācā) là sự kiêng tránh không dùng ngôn từ sai quấy trong sự truyền đạt.
  4. Chánh nghiệp (sammākammanta) là sự kiên tránh không có những hành động bất thiện.
  5. Chánh mạng (sammā-ājiva) là sự kiêng tránh không mưu sinh bất chánh.
  6. Chánh tinh tấn (sammāvāyāma) là nỗ lực làm tốt bản thân theo cách “bỏ ác, làm lành”
  7. Chánh niệm (sammāsati) là sự tỉnh táo ý thức rõ những gì đang xẩy ra đối với thân tâm.
  8. Chánh định (sammāsamādhi) là khả năng tập chú bền bỉ tạo nên định lực.
  9. Tà kiến (micchādiṭṭhi) chấp thủ quan niệm bất kể đúng sai.
  10. Tà tư duy (micchāsankappa) là sự suy nghĩ bị ảnh hưởng bởi ham muốn, bực tức, và thù hận.
  11. Tà tinh tấn (micchāvāyāma) là sự cố gắng không có lập tâm giảm thiểu ác pháp, tăng trưởng thiện pháp.
  12. Tà định (micchāsamādhi) là sự tập trung tâm ý tạo nên những biến chứng tai hại cho đời sống nội tâm về lâu dài.

Pháp bản thể của 12 đạo chi mang nhiều ý nghĩa thú vị.

Bản thể của chánh kiến là thuộc tánh trí tuệ trong lúc bản thể của tà kiến không phải là thuộc tánh* si (trong si phần) mà là thuộc tánh tà kiến (trong tham phần)

Bản thể của chánh tư duy và tà tư duy là thuộc tánh tầm (thuộc nhóm tợ tha). Tư duy và tầm đồng nghĩa trong sự giải thích về pháp. Đây là điều người học Phật cần đặc biệt lưu tâm.

Bản thể của chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là ba thuộc tánh của nhóm giới phần hay nhóm kiêng tránh. Ba thuộc tánh nầy chỉ sanh khởi riêng lẻ trong tâm thiện dục giới nhưng đồng sanh và kết hợp đồng bộ trong tâm siêu thế. Đây là đặc điểm của “bát chi đạo”. Không có pháp bản thể của tà ngữ, tà nghiệp, và tà mạng. Ba pháp tà nầy thuộc về hiện tượng không thuộc bản chất. Tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng tạo ra bởi tâm bất thiện nhưng không có pháp bản thể cố định nên không có trong đạo chi.

Bản thể của chánh niệm là thuộc tánh niệm trong nhóm thuộc tánh tịnh hảo biến hành. Không có pháp bản thể của tà niệm. Tất cả những giao động, thiếu ý thức tỉnh táo về những gì đang xẩy ra có thể tạo nên bởi nhiều tâm bất thiện khác nhau nên không có trong đạo chi.

Bản thể của chánh tinh tấn và tà tinh tấn đều là thuộc tánh cần.

Bản thể của chánh định và tà định đều là thuộc nhất hành.

Tất nhiên để trở thành “đạo chi” những thuộc tánh phải ở mức độ tinh luyện cao (cố ý hay vô tình) để tạo nên hiệu ứng.

⇒ TK Giác Đẳng - www.lopphatphap.net

(*) thuộc tánh = tâm sở hay sở hữu tâm

8 Chánh Chi Đạo4 Tà Chi Đạo
1. Chánh Kiến (sammādiṭṭhi):
Tâm sở Trí (paññā) trong
  • 8 tâm Đại thiện (mahākusalacitta),
  • 8 tâm Đại tố (mahākiriyacitta) và
  • 26 tâm Đổng lực Kiên cố (appanājavana).
  • 9. Tà Kiến (micchādiṭṭhi):
    Tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong
  • 4 tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • 2. Chánh Tư Duy (sammāsaṅkappa):
    Tâm sở Tầm (vitakka) trong
  • 8 tâm Đại thiện (mahākusalacitta),
  • 8 tâm Đại tố (mahākiriyacitta) và
  • 26 tâm Đổng lực Kiên cố (appanājavana).
  • 10. Tà Tư Duy (micchāsaṅkappa):
    Tâm sở Tầm (vitakka) trong
  • 12 tâm bất thiện (akusalacitta).
  • 3. Chánh Ngữ (sammāvācā):
    Tâm sở Chánh Ngữ (sammāvācā) trong
  • 8 tâm Đại thiện (mahākusalacitta) và
  • 40 tâm Siêu thế (lokuttaracitta).
  • Vì sao không có Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng
    chi đạo?
    4. Chánh Nghiệp (sammākammanta):
    Tâm sở Chánh Nghiệp (sammākammanta) trong
  • 8 Đại thiện (mahākusalacitta) và
  • 40 tâm Siêu thế (lokuttaracitta).
  • 5. Chánh Mạng (sammā-ājīva):
    Tâm sở Chánh Mạng (sammā-ājīva) trong
  • 8 Đại thiện (mahākusalacitta) và
  • 40 tâm Siêu thế (lokuttaracitta).
  • 6. Chánh Tinh Tấn (sammāvāyāma):
    Tâm sở Cần (viriya) trong
  • 8 tâm Đại thiện (mahākusalacitta),
  • 8 tâm Đại tố (mahākiriyacitta) và
  • 26 tâm Đổng lực Kiên cố (appanājavana).
  • 11. Tà Tinh Tấn (micchāvāyāma):
    Tâm sở Cần (viriya) trong
  • 12 tâm bất thiện (akusalacitta).
  • 7. Chánh Niệm (sammāsati):
    Tâm sở Niệm (sati) trong
  • 8 Đại thiện (mahākusalacitta),
  • 8 tâm Đại tố (mahākiriyacitta) và
  • 26 tâm Đổng lực Kiên cố (appanājavana).
  • 8. Chánh Định (sammāsamādhi):
    Tâm sở Định (ekaggatā) trong
  • 8 Đại thiện (mahākusalacitta),
  • 8 tâm Đại tố (mahākiriyacitta) và
  • 26 tâm Đổng lực Kiên cố (appanājavana).
  • 12. Tà Định (micchāsamādhi):
    Tâm sở Định (ekaggatā) trong
  • 12 tâm bất thiện (akusalacitta).
  • Ghi chú:
    26 Đổng lực kiên cố gồm 9 tâm thiện Đáo đại, 9 tâm tố Đáo đại và 8 tâm Siêu thế.

    Chánh kiến (Sammādiṭṭhi) – Tà kiến (Micchādiṭṭhi)


    Tà-kiến và chánh-kiến phát sinh do nhân nào?

    Trong Chi-bộ-kinh, phần pháp 2 chi, Đức-Phật thuyết dạy tà kiến (micchādiṭṭhi) phát sinh do 2 nhân duyên:

    “Dveme Bhikkhave, paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāya. Katame dve?
    Parato ca ghoso,
    ayoniso ca manasikāro.
    Ime kho bhikkhve, dve paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāya”.


    Này chư tỳ-khưu! Do 2 nhân-duyên làm phát sinh tà kiến. Hai nhân-duyên ấy là gì?
    Lắng nghe tà-pháp từ hạng người có tà-kiến.
    biết trong tâm với si-tâm không biết đúng 4 trạng-thái của các pháp hữu vi.
    Này chư tỳ-khưu! Do 2 nhân-duyên ấy làm phát sinh tà-kiến.

    Ayoniso ca manasikāro: biết trong tâm với si-tâm không biết đúng 4 trạng-thái của tất cả sắc-pháp, danh-pháp tam-giới như sau:
    1. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái vô-thường (anicca) thì do si-tâm biết đảo ngược cho rằng thường (nicca).
    2. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái khổ (dukkha) thì do si-tâm biết đảo ngược cho rằng lạc (sukha).
    3. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái vô-ngã (anattā) thì do si-tâm biết đảo ngược cho rằng ngã (attā).
    4. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái bất-tịnh (asubha) thì do si-tâm biết đảo ngược cho rằng tịnh (subha).
    Ayonisomanasikāra: biết trong tâm với si-tâm biết đảo ngược 4 trạng-thái của tất cả sắc-pháp, danh-pháp tam-giới cho rằng thường, lạc, ngã, tịnh làm nhân-duyên phát sinh tà-kiến, cũng làm nhân-duyên phát sinh pháp-đảo-điên (vipallāsa).

    Pháp-đảo-điên có 3 loại:
    1. Tà kiến đảo điên (Diṭṭhivipallāsa) thấy đảo ngược nơi sắc-pháp, danh-pháp cho rằng thường, lạc, ngã, tịnh.
    2. Tâm đảo điên (Cittavipallāsa) biết đảo ngược nơi sắc-pháp, danh-pháp cho rằng thường, lạc, ngã, tịnh.
    3. Tưởng đảo điên (Saññāvipallāsa) tưởng đảo ngược nơi sắc-pháp, danh-pháp cho rằng thường, lạc, ngã, tịnh.
    Như vậy, pháp-đảo-điên có 3 loại, mà mỗi loại có 4 pháp, cho nên, gồm có 12 pháp-đảo-điên làm nhân-duyên phát sinh tà-kiến.

    Trong Chi-bộ-kinh, phần pháp 2 chi, Đức-Phật thuyết dạy chánh-kiến (sammādiṭṭhi) phát sinh do 2 nhân-duyên như sau:

    “Dveme Bhikkhave, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya. Katame dve?
    Parato ca ghoso,
    yoniso ca manasikāro.
    Ime kho bhikkhave, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya.”


    Này chư tỳ-khưu! Do 2 nhân-duyên làm phát sinh chánh-kiến. Hai nhân-duyên ấy là gì?
    Lắng nghe chánh-pháp từ các bậc thiện-trí có chánh-kiến.
    Hiểu biết trong tâm với trí-tuệ biết đúng 4 trạng-thái của các pháp hữu vi.
    Này chư tỳ-khưu! Do 2 nhân-duyên ấy làm phát sinh chánh-kiến.

    Yoniso ca manasikāro: biết trong tâm với trí-tuệ biết đúng 4 trạng-thái của tất cả sắc-pháp, danh-pháp tam-giới như sau:
    1. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái vô-thường (anicca) thì trí-tuệ biết đúng là vô-thường (anicca).
    2. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái khổ (dukkha) thì trí-tuệ biết đúng là khổ (dukkha).
    3. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái vô-ngã (anattā) thì trí-tuệ biết đúng là vô-ngã (anattā)
    4. Sắc-pháp, danh-pháp có trạng-thái bất-tịnh (asubha) thì trí-tuệ biết đúng là bất-tịnh (asubha).
    Yonisomanasikāra: hiểu biết trong tâm với trí-tuệ biết đúng 4 trạng-thái của tất cả sắc-pháp, danh-pháp tam-giới đều có trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã, trạng-thái bất-tịnh làm nhân-duyên phát sinh sammādiṭṭhi: chánh-kiến.

    Chánh-kiến có 5 loại:
    1. Chánh-kiến-sở-nghiệp (Kammassakatā sammādiṭṭhi) nghĩa là trí-tuệ thấy đúng, biết đúng thiện-nghiệp và ác-nghiệp mà mình đã tạo rồi là của riêng mình.
    2. Chánh-kiến-thiền-tuệ (Vipassanā sammādiṭṭhi) nghĩa là trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ thật-tánh của sắc-pháp, danh-pháp là pháp vô-ngã, thấy rõ, biết rõ sự sinh, sự diệt của sắc-pháp, danh-pháp, thấy rõ, biết rõ 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp tam-giới.
    3. Chánh-kiến Thánh-đạo-tuệ (Maggasammādiṭṭhi) nghĩa là trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới chứng đắc 4 Thánh-đạo-tuệ có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
    4. Chánh-kiến-Thánh-quả-tuệ (Phalasammādiṭṭhi) nghĩa là trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới chứng đắc 4 Thánh-quả-tuệ có đối-tượng Niết-bàn siêu-tam-giới.
    5. Chánh-kiến quán-triệt (Paccavekkhaṇāsammādiṭṭhi) nghĩa là trí-tuệ-thiền-tuệ quán-triệt Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn đã chứng đắc; quán-triệt phiền-não đã diệt tận và phiền-não chưa diệt tận được.
    Thật ra, phước-thiện chánh-kiến trong 10 phước-thiện (puññakriyāvatthu) thì chỉ có chánh-kiến-sở-nghiệp (Kammassakatā sammādiṭṭhi) mà thôi.

    ⇒ TK Hộ Pháp - nentangphatgiao.com

    Chánh Tư Duy (sammāsaṅkappa) - Tà Tư Duy (micchāsaṅkappa)


    Chuyện Trưởng lão Sāriputta
    11. "Không chân, tưởng chân thật,
    Chân thật, thấy không chân
    Họ không đạt chân thật
    Do tà tư tà hạnh."
    12. "Chân thật, biết chân thật,
    Không chân, biết không chân.
    Chúng đạt được chân thật,
    do chánh tư, chánh hạnh."
    (Pháp Cú)
    Sāriputtattheravatthu
    11. Asāre sāramatino,
    sāre cāsāradassino;
    Te sāraṁ nādhigacchanti,
    micchāsaṅkappagocarā.
    12. Sārañca sārato ñatvā,
    asārañca asārato;
    Te sāraṁ adhigacchanti,
    sammāsaṅkappagocarā.
    (Dhammapada)

    Tư tưởng hay tư duy có hai loại: chánh tư duy và tà tư duy. Chánh tư duy là một chi pháp trong Bát Chánh Đạo, thuộc tuệ phần, thuật ngữ Pāḷi gọi là sammāsaṅkappa.

    Sammā là chân chánh, saṅkappa do động từ sankappeti là suy gẫm, tư duy hay nghĩ tưởng. Biết tư duy chín chắn là cách chuyển hoá những suy nghĩ lầm lạc. Những danh từ phạn ngữ: tưởng (Saññā), tầm (vitakka), tư lự (ciñtà), hồi quán (paccavekkhana), tùy quán (anupassanā)... tuy có nghĩa riêng của nó nhưng ở đây được xem như đồng nghĩa với tư duy (saṅkappa).

    Trong ba giai đoạn trí tuệ thì tu tuệ (bhāvanā paññā) tức là thiền vipassanā ở giai đoạn ba hoàn toàn vắng bóng tư tưởng, nhưng trong ciñta paññā (tư tuệ) ở giai đoạn hai thì tư duy có khả năng làm phát sinh trí tuệ, nhưng tư duy đó phải là suy nghĩ chơn chánh. Có suy nghĩ chơn chánh thì hành động và lời nói mới chơn chánh. Như thế chúng ta thấy rằng: chánh tư duy đóng vai trò quan trọng trong việc tu tập để chuyển hoá tư duy bất thiện thành hiền thiện, tư duy sai lầm thành đúng đắn.

    Chánh tư duy hay tư tưởng chơn chánh là pháp đối trị ba thứ vọng tưởng thuộc tà tư duy.

    Vậy trước hết chúng ta cần biết thế nào là tà tư duy.

    Tà tư duy là tư tưởng làm phát sinh bất thiện pháp, tăng trưởng tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến v.v. đưa đến tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng… Có ba loại tà tư duy hay tà niệm, tà tầm, tà tưởng tiêu biểu:
    1. Dục tưởng (kàma - saññā):

      Suy nghĩ đến dục lạc (kàmasukha), tức là tâm tìm kiếm thoả mãn cảm giác giác quan, nói một cách khác là tư tưởng bám víu trong tài, sắc, lợi, danh hay trong ngũ dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc làm tăng trưởng tham lam, đoạn giảm định tĩnh. Như một người ghiền rượu thường nghĩ đến cảm giác ngây ngất men say.

    2. Sân tưởng (vyāpāda - saññā):

      Là tâm niệm bất bình, hờn giận, ganh ghét, lo âu, sợ hãi về những đối tượng không vừa lòng hợp ý. Những ý nghĩ bực tức, bất mãn, đối kháng ấy làm tăng trưởng tâm sân hận, đoạn giảm tình thương yêu, từ ái. Như người hay giận hờn thường nghĩ đến đối tượng trở ngại hay nghịch cảnh với một tâm trạng bức xúc.

    3. Hại tưởng (vihiṁsa - saññā):

      Suy nghĩ những phương kế hãm hại kẻ thù địch hay san bằng nghịch cảnh, và cao độ nhất là tư tưởng muốn tiêu diệt đối thủ. Tư tưởng nầy có thể đưa đến bạo hành, khủng bố, cướp của, giết người v.v. Hại tưởng làm tăng trưởng tính hung ác, đoạn giảm lòng bi mẫn. Như người có tâm niệm báo thù, rửa hận thường nghĩ đến những mưu ma chước quỉ để hành hạ, làm khổ kẻ đối nghịch mà không nghĩ đến cái khổ của tha nhân cũng là nỗi khổ của chính mình, hại người chính là tự hại.

    Ba tà tư duy nói trên đều có đặc tính chung là làm tăng trưởng ác pháp, đoạn giảm thiện pháp và đưa đến hại mình hại người.

    Để chuyển hoá ba loại tư tưởng nầy chúng ta cần tu tập ba chánh tư duy:
    1. Ly dục tưởng (nekkhamma - saññā):

      Là suy nghĩ về tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh của ngũ dục (sắc, thanh,hương, vị, xúc). Đức Phật ví sự sinh diệt, hợp tan của ngũ trần, nói chung là pháp hữu vi, như giấc mộng, như huyễn hóa, như bọt nước, như ảo ảnh, như sương mai, như ánh chớp trên không. Nhất là thường quán tưởng đến tính chất bất tịnh, nguy hiểm, tai hại của ngũ dục thì mới thoát khỏi trói buộc của dục tưởng. Đời sống của chúng ta hẳn sẽ tự tại, hạnh phúc hơn khi không còn bị dục lạc chi phối. Đúng như một nhà tư tưởng tây phương đã nói: “Muốn có được những hạnh phúc cao thượng thì hãy lánh xa những lạc thú đê hèn”

      Nghĩ tưởng đến sự bất tịnh, sự uế trược của thân (ba muơi hai thể trược) giúp giảm bớt những ham muốn thể xác, nghĩ về sự dơ bẩn, nguy hiểm của vật thực giúp giảm bớt tham lam vô độ trong ăn uống v.v.

    2. Ly sân tưởng (abyāpāda - saññā):

      Không nuôi trong lòng những tư tưởng sân hận. Trong Pháp Cú Kinh Đức Phật có dạy:

      Akkocchi maṃ avadhi maṃ, ajīni maṃ ahsi me, ye ca taṃ upanayāhanti, veraṃ tesaṃ na sammati. . .ye ca taṃ nūpanayhanti veraṃ tesūpasammati.

      “Nó nhục mạ ta, đánh đập ta, chiến thắng ta và cướp đoạt của ta. Người nào hằng ôm ấp tâm niệm như thế thì oán hận không bao giờ nguôi... kẻ nào xả ly tâm niệm ấy thì oán hận ắt phải tiêu tan”.

      Một đoạn Kinh khác dạy: “Phải dứt bỏ sân hận, phải tránh xa ngã mạn và đoạn lìa mọi ràng buộc thì phiền não không thể chi phối được”. Thực ra, người ôm ấp tư tưởng sân hận tự hại chính mình hơn là hại kẻ khác.

      Muốn chuyển hóa được tư tưởng sân hận phải diệt trừ tâm niệm đó bằng cách tu tập đức tính nhân từ (mett). Vì chỉ có lòng từ ái mới diệt được hận thù (averena verni sammanti) trái lại hận thù chỉ làm cho hận thù thêm chồng chất.

      Trong 40 đề mục thiền định, đề mục đối trị tâm sân là phát triển tâm từ (mettā bhāvanā). Muốn phát triển lòng từ ái trước hết tâm phải mát mẻ, dịu dàng, khoan dung, độ lượng với chính mình thì những bức xúc, căng thẳng, buồn bực, lo âu, sợ hãi, sân hận mới được lắng dịu. Tự mình không sân thì mới rải tâm từ đến những người xung quanh được. Như vậy người niệm tâm từ phải luôn luôn giữ tâm cởi mở, trong lành và mát dịu như nước cam lồ, phải hằng niệm tưởng như vầy:

      “Nguyện cho tất cả chúng sanh không có lòng thù oán, luôn được sự an vui” (sabbe sattā averā hontu, sukhitā hontu). Chúng ta có thể niệm tưởng như thế bất cứ lúc nào chứ không cần phải ngồi kiết già hàng giờ như khi thực hành các đề mục thiền định khác. Mặt khác khi ghét người nào chúng ta thường nghĩ xấu về người ấy mà không biết rằng làm như vậy chỉ phát triển thêm lòng oán hận nơi mình mà thôi. Khổ khổ mà Đức Phật dạy trong Khổ Đế chính là do lòng sân hận gây ra. Vậy nghĩ tốt về người khác cũng là cách giúp chúng ta chuyển hoá tâm sân, phát triển lòng từ.

      Hồi hướng công đức sau mỗi lúc chúng ta làm điều phước thiện, cũng là một hình thức khác của tâm từ. Nhờ niệm tâm từ mà dần dần hành giả dẹp bỏ được lòng oán hận, ganh tỵ, bỏn xẻn, vị kỷ và phát huy tâm từ ái, khoan dung, vị tha, quảng đại.

      Một bậc chỉ có thể gọi là bồ tát khi đã phát tâm cứu độ chúng sanh, nghĩa là phải có tâm từ tâm bi xuất chúng, chứ không thể tự xem mình là bồ tát khi tâm còn ôm ấp hận thù oan trái.

    3. Ly hại tưởng (avihiṁsa - saññā):

      Là loại bỏ những ý nghĩ hãm hại kẻ khác. Con người vì quá chấp ngã và ngã sở nên sẵn sàng hãm hại, tiêu diệt kẻ nào đụng đến quyền lợi, danh dự của mình. Nhưng nếu biết tự ái, biết tự bảo vệ hạnh phúc và sống còn của mình thì tại sao không tôn trọng hạnh phúc và sự an nguy của kẻ khác? Đức Khổng Tử dạy: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì ta không muốn thì đừng làm cho người). Vậy ta không muốn đau khổ thì tại sao tìm hạnh phúc trên sự đau khổ của kẻ khác. Và sao ta không tìm hạnh phúc bằng cách đem an vui đến tha nhân, như câu châm ngôn tây phương nói rằng: “Bàn tay tặng hoa hồng tự nó được thơm trước”.

      Chúng ta nên ghi nhớ lời dạy sau đây của Đức Từ Phụ:“Ai ai cũng sợ gươm dao, ai ai cũng sợ chết. Lấy bụng ta suy bụng người, không nên giết hại, cũng không nên bảo ai giết hại” để thường xuyên thực hành tâm bi mẫn, bao dung, tha thứ hầu diệt trừ tâm niệm hãm hại kẻ khác”.

      Đề mục thiền định đối trị hại tưởng là phát triển tâm bi (karun bhvan). Nếu tâm từ không sân hận với ai mà chỉ mong cho mọi người, mọi loài được an lạc thì tâm bi không nỡ hại ai vì chỉ muốn không ai đau khổ. Thấy người khác đau khổ, người phát triển tâm bi thường quan sát, tư duy về cái khổ của mình để cảm thông và chia sẻ với nỗi khổ của chúng sanh.

    Trên đây chúng ta vừa nói đến ba chánh tư duy đối trị ba tà tưởng.

    ⇒ TK Viên Minh - www.trungtamhotong.org

    Chánh Tinh Tấn (sammāvāyāma) - Tà Tinh Tấn (micchāvāyāma)


    Tinh tấn có đặc tính nỗ lực, chức năng/phận sự của tinh tấn là củng cố; biểu hiện/thành tựu của tinh tấn là không mệt mỏi; cận nhân của tinh tấn là một cơ hội cho tinh tấn hay trạng thái khẩn cấp tu niệm

    Tâm sở tinh tấn sinh kèm với hầu hết các tâm, ngoại trừ mười sáu tâm vô nhân, tức là các tâm không sinh kèm với các nhân thiện hay bất thiện. Như vậy, bất cứ khi nào tâm tham thọ hỷ về một đối tượng sinh khởi, có tâm sở tinh tấn sinh kèm với tâm ấy và đảm nhận chức năng của nó là nỗ lực dính mắc và hoan hỷ với đối tượng ấy. Dù tâm là thiện hay bất thiện, luôn có tâm sở tinh tấn sinh kèm với nó. Khi tâm bất thiện sinh khởi, tâm sở tinh tấn chính là nỗ lực cho bất thiện pháp, còn khi tâm thiện sinh khởi, tâm sở tinh tấn đảm nhận chức năng nỗ lực cho thiện pháp.

    Mỗi loại thiện pháp cần có tinh tấn cho sự sinh khởi của nó và khi tinh tấn ấy được vun bồi, nó có thể trở thành tinh tấn ba la mật. Khi chánh niệm sinh khởi hay biết các đặc tính của các pháp chân đế đang xuất hiện, không có mình hay tự ngã nào cố gắng chánh niệm, mà chính là chức năng của chánh tinh tấn, sammā-vāyāma. Chánh tinh tấn hay tâm sở tinh tấn sinh khởi với chánh niệm và nỗ lực tìm hiểu, ghi nhận, chú ý tới thực tại đang xuất hiện. Chánh tinh tấn là tinh tấn hay nhiệt tâm để trí tuệ hiểu rằng cái xuất hiện qua mắt chỉ là một loại sắc không tồn tại kéo dài; hoặc rằng pháp là cái thấy chỉ là một giới (dhatu), một đặc tính của danh pháp kinh nghiệm cái xuất hiện qua mắt. Chính tinh tấn ba la mật là pháp nỗ lực nghiên cứu các đặc tính của các thực tại xuất hiện, từng thứ một. Bất kể tinh tấn ba la mật sinh khởi cùng tứ niệm xứ có mặt thường xuyên hay không, tinh tấn ấy có tính chất không mệt mỏi với nhiệm vụ nghiên cứu và ghi nhận các thực tại hiện khởi. Khi tinh tấn sinh khởi, chúng ta không nản chí; tinh tấn luôn đảm nhận nhiệm vụ của mình kể cả khi tiến trình vun bồi trí tuệ rất chậm chạp và khó khăn.

    Tinh tấn ba la mật là vô cùng quan trọng và nó cần được phát triển song song với các ba la mật khác để tích lũy đủ duyên cho việc cập bến giác ngộ, tức là chứng đắc niết bàn. Ngay cả những thiện pháp như bố thí cũng không thể được thực hiện nếu không có tinh tấn. Mọi người có thể có thiện tâm với ý định bố thí, nhưng họ lại khó hành động theo ý định tốt lành đó bởi lười nhác: khi có thứ có thể được cho đi, họ không bố thí. Họ có niềm tin vào thiện pháp và muốn rộng rãi, nhưng do không đủ tinh tấn cần thiết cho việc thực hiện bố thí, họ không làm được các việc bố thí cúng dường.Vì vậy, tinh tấn ba la mật là một trợ duyên không thể thiếu cho các ba la mật khác, chẳng hạn như bố thí hoặc trì giới.

    Đôi lúc có thể ta quá biếng nhác để làm thiện pháp, có thể ta nghĩ rằng làm như vậy thật phiền toái, rằng mình quá mệt mỏi, hoặc rằng việc đó chiếm nhiều thời gian. Ở những khoảnh khắc như vậy, ta đang bị chế ngự bởi bất thiện và vì thế thiện không thể sinh khởi. Nếu biết được rằng mình đang khó tạo thiện pháp vì sự thụ động và lười biếng, ngay khi đó ta nên cần mẫn hơn để thực hành thiện pháp. Cuộc sống vô cùng ngắn ngủi, vì nó chỉ tồn tại trong một sát-na tâm, và khoảnh khắc này có thể là thiện tâm hay bất thiện tâm tùy thuộc vào duyên. Vì thế, ta không nên buông theo sự biếng nhác mà lơ là nhiệm vụ làm việc thiện của mình. Nếu lúc nào ta cũng thụ động và lười biếng, chứng tỏ rằng ba la mật tinh tấn còn yếu kém, và rằng vì thế, không có duyên cho sự tận diệt bất thiện. Cách duy nhất để tận diệt bất thiện là chăm chỉ và nhiệt tình thực hành mọi loại thiện pháp mà mình có thể làm.

    Môt số người hối tiếc rằng mình đã lãng phí thời gian và bỏ qua cơ hội tạo thiện pháp bởi sự thụ động và lười biếng của mình ở những khoảnh khắc đó. Những người ấy cần suy xét về tinh tấn ba la mật và tích lũy thêm về nó để có thể có đủ duyên cho sự tận diệt mọi loại bất thiện.

    Tinh tấn tâm sở được xếp trong nhóm các tâm sở biệt cảnh (pakiṇṇakā). Các tâm sở này sinh khởi cùng nhiều tâm nhưng không phải với tất cả các tâm1. Sáu tâm sở biệt cảnh là: tầm (vitakka), tứ (vicāra), quyết định (adhimokkha), tinh tấn (viriya), phỉ (pīti), và dục (chanda). Tinh tấn tâm sở sinh khởi thường xuyên, nó sinh kèm với nhiều tâm trong cuộc sống hàng ngày, trừ mười sáu tâm vô nhân (ahetuka citta2), và nó là tâm sở duy nhất trong số các tâm sở biệt cảnh có thể trở thành một ba la mật. Khi tinh tấn là nỗ lực cho thiện pháp đã được vun bồi thêm, nó trở thành tinh tấn ba la mật. Khi ấy, tinh tấn là cận sự cho trí tuệ và là một duyên cho sự chứng ngộ Tứ Thánh đế.

    Tà Tinh Tấn

    Tinh tấn đang sinh khởi lúc này là thiện hay bất thiện? Nếu là bất thiện thì đó không phải là một ba la mật. Tinh tấn nằm trong số các tâm sở biệt cảnh, vì thế nó có thể sinh kèm cả tâm thiện lẫn tâm bất thiện, nhưng đa phần nó dễ sinh khởi với tâm bất thiện tham căn. Tinh tấn sinh kèm tâm bất thiện vô số lần, nhưng thay vì dành năng lượng cho bất thiện, ta cần phấn đấu để tích lũy ba la mật tinh tấn, ta cần thấy lợi ích của nó.

    Chúng ta đọc trong “Chú giải Bộ Pháp Tụ” (Quyển I, phần IV, I, 121) về tinh tấn như sau:

    “…tinh tấn có đặc tính là cố gắng, chức năng là củng cố các pháp đồng sinh, biểu hiện là đối nghịch với nhu nhược. Người ta nói rằng: ‘Người rúng động thì nỗ lực đúng đắn’, vì thế tinh tấn có cận nhân là trạng thái khẩn cấp tu niệm.”

    ⇒ xem thêm vn.dhammahome.com

    Tà định (micchāsamādhi)


    Trong Vi diệu pháp, tà định (micchāsamādhi) chính là yếu tố tâm ekaggatā là một trong bảy biến hành tâm sở. Có nghĩa rằng là một tâm sở có thể có mặt trong các tâm bất thiện cũng như là các tâm thiện. Cho nên micchāsamādhi – tà định là sự tập trung vào một việc nào xấu ác. Ví dụ con mèo tập trung để bắt một con chuột. Sự chú ý, tập trung đó gọi là tà định. Hay một người đi ăn trộm, để cho người khác không biết được, người ăn trộm rất nhẹ nhàng và chú tâm quan sát những người xung quanh, những hoàn cảnh xung quanh. Sự tập trung của người ăn trộm cũng gọi là tà định. Hay một người tập trung câu cá, sự tập trung như vậy cũng gọi là tà định. Nói tóm lại tà định là sự tập trung vào một điều gì đó bất thiện.

    Cho nên đối với các đệ tử của các ngoại đạo sư, khi có tà kiến như là không có nhân, không có duyên họ có thể đọc natthihetu, natthipaccayo giống như chúng ta đọc tụng hetupaccayo, ārammaṇapaccayo. Sự đọc tụng đó có thể khiến cho họ có được sự định tĩnh, nhưng sự định tĩnh đó dựa trên tà kiến thấy sai chấp lầm. Cho nên họ có thể sát sinh, trộm cắp, tà dâm vì quan niệm của họ không có nhân, không có duyên, không có quả. Cho nên họ không có sợ làm điều ác, vì vậy dễ có tâm xu hướng làm điều ác. Mặc dù khi họ đọc tụng như vậy, các yếu tố định tính khiến cho tâm họ trở lên lắng đọng nhưng vì sự hiểu biết của họ là thấy sai chấp lầm cho nên những gì họ làm đều có kết quả xấu ở trong hiện tại và trong tương lai.

    ⇒ trích bài giảng của BHADANTA SUNDARA - theravada.vn


    A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

    © www.tudieu.de