| ⇐ | Phân định danh sắc tuệ (Nāmarūpaparicchedañāṇa) | ⇒ |
|
Trước hết, hành giả cần hiểu danh sắc là gì, mới khởi sự tu tiến tuệ. Danh (nāma) là pháp có thực thể phi vật chất, phi sắc (arūpī), chỉ có tên gọi thôi. Danh, nói chung là tâm, tâm sở (danh pháp hữu vi), và níp-bàn (danh pháp vô vi). Nhưng, danh thành đối tượng của tuệ quán đây, chỉ kể là tâm hiệp thế và tâm sở tương ưng, vì rằng pháp siêu thế không thể được biết bởi một người đang thực hành tuệ quán để chứng đạo quả. Sắc (rūpa) là thực thể vật chất, đặc tính bị quấy nhiễu bởi yếu tố thời tiết v.v... Sắc pháp gồm 4 đại hiển và 24 sắc y đại sinh (gọi tắt là sắc y sinh). Khi đã biết hai thành phần danh sắc như vậy, hành giả sẽ phân biệt được danh sắc theo uẩn, xứ, giới; Tùy theo, có người phân định danh sắc theo ngũ uẩn, có người phân định danh sắc theo thập nhị xứ, có người phân định danh sắc theo thập bát giới. Như sau:
a. Phân định danh sắc theo năm uẩn Hành giả phân biệt rằng: Thân này chỉ là năm nhóm: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Sắc uẩn gồm 17 sắc cụ thể (8 sắc bất ly, 5 sắc thần kinh, 1 sắc giới tính, 1 sắc ý vật, 1 sắc mạng quyền, và thinh), 10 sắc trừu tượng (2 sắc biểu tri, 3 sắc đặc biệt, 4 sắc tướng trạng, và 1 sắc giao giới). Thọ uẩn là thuộc tánh thọ tương ưng tâm hiệp thế. Tưởng uẩn là thuộc tánh tưởng tương ưng tâm hiệp thế. Hành uẩn là 50 thuộc tánh ngoài thọ tưởng tương ưng tâm hiệp thế. Thức uẩn là 81 tâm hiệp thế. Hành giả phân định: Sắc uẩn là sắc; Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn là danh. Đây gọi là phân định danh sắc theo năm uẩn. b. Phân định danh sắc theo mười hai xứ Hành giả phân biệt rằng có 6 nội xứ và 6 ngoại xứ. Sáu nội xứ là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, và ý xứ. Sáu ngoại xứ là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xúc, xúc xứ, và pháp xứ. Hành giả phân định, trong sáu nội xứ có sắc là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ; Có danh là ý xứ. Phân định trong sáu ngoại xứ có sắc là sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, và một phần pháp xứ (16 sắc tế); Có danh là một phần pháp xứ (52 tâm sở). Như vậy trong mười hai xứ, có 10 xứ rưỡi là sắc, 1 xứ rưỡi là danh. Đây gọi là phân định danh sắc theo mười hai xứ. ![]() c. Phân định danh sắc theo mười tám giới
Hành giả phân biệt rằng: đây là nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thinh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, khí giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới. Hành giả phân định trong mười tám giới ấy: Nhãn giới, sắc giới là sắc; Nhãn thức giới là danh. Nhĩ giới, thinh giới là sắc; Nhĩ thức giới là danh. Tỷ giới, khí giới là sắc; Tỷ thức giới là danh. Thiệt giới, vị giới là sắc; Thiệt thức giới là danh. Thân giới, xúc giới là sắc; Thân thức giới là danh. Ý giới, ý thức giới là danh. Pháp giới có một nửa là danh, một nửa là sắc. Như vậy trong mười tám giới có 10 giới rưỡi là sắc, 7 giới rưỡi là danh. Đây gọi là phân định danh sắc theo mười tám giới. Sau khi tìm ra danh và sắc trong thân này theo uẩn, theo xứ, theo giới như vậy rồi, hành giả phân định rằng: “Đây là danh”, “Đây là sắc”... Nếu đã xét như vậy mà vẫn chưa sanh tuệ phân định danh sắc thì hành giả làm theo ba cách này để hiện rõ tuệ phân định danh sắc là nhờ xúc, nhờ thọ, nhờ thức. a. Cách làm cho tuệ phân định danh sắc hiện rõ nhờ xúc. Khi niệm hơi thở vô ra: Hơi thở, mũi và khí quản có đặc tính bốn đại như cứng mềm, nóng lạnh, chuyển động phồng xọp... do xúc mà biết; Xúc có thọ, tưởng, tư, tâm tương ưng. Hành giả nhận định “Hơi thở, mũi, khí quản là sắc; Xúc, thọ, tưởng, tư, tâm biết hơi thở vô ra là danh”. Đó là cách nhờ xúc mà tuệ hiện rõ. b. Cách làm cho tuệ phân định danh sắc hiện rõ nhờ thọ. Khi niệm hơi thở vô ra: Hơi thở di chuyển theo khí quản đi ngang mũi, thọ cảm nhận sự kích thích của hơi thở gây dễ chịu hay khó chịu; Thọ có tưởng, có xúc, có tư, có tâm tương ưng. Hành giả nhận định “Hơi thở, mũi, khí quản là sắc; Thọ, tưởng, xúc, tư, tâm biết hơi thở là danh. Đó là cách nhờ thọ mà tuệ được hiện rõ. c. Cách làm cho tuệ phân định danh sắc hiện rõ nhờ thức. Khi niệm hơi thở vô ra: Hơi thở di chuyển ngang qua mũi theo khí quản, tâm nhận ra sự có mặt của cảnh xúc là hơi thở, tâm ấy là thức; thức có xúc, có thọ, có tưởng, có tư tương ưng. Hành giả nhận định “Hơi thở, mũi, khí quản, là sắc; Thức, xúc, thọ, tưởng, tư biết hơi thở, là danh.” Đó là cách nhờ thức mà tuệ được hiện rõ. Hành giả bằng cách nhờ xúc, thọ, thức mà làm hiện rõ tuệ phân định danh sắc mới kết luận rằng: Thân này chỉ là danh sắc, ngoài danh sắc không có cái gì gọi là tự ngã, hay con người, hay chư thiên Phạm thiên chi cả... chỉ là một tổng hợp danh sắc. Trong Tương ưng bộ kinh có nói: Như bộ phận quy tụ danh từ “xe” được gọi cũng vậy, uẩn quy tụ giả lập gọi “chúng sanh” (S. I, 135) Thân này do năm uẩn kết hợp, chỉ là danh sắc, theo nghĩa chân đế. Danh từ “chúng sanh”, “tự ngã”… là thường thức, chế định hoặc do chấp thủ. Cũng như danh từ “chiếc xe” là gọi theo thường thức, gồm nhiều bộ phận khung, giàn, trục, bánh xe... Khi tách ra từng bộ phận thì mỗi bộ phận không phải là “chiếc xe”, cũng vậy, khi năm uẩn được tách ra thì không có cái gọi là “tự ngã”. Lại nữa, hành giả nên quán xét danh và sắc lệ thuộc lẫn nhau; Danh làm duyên cho sắc, sắc làm duyên cho danh. Sắc sanh do duyên danh, danh sanh do duyên sắc. Cũng như anh mù chân khỏe cõng anh què mắt sáng, nương nhau đi chỗ này chỗ kia vậy. Danh sắc là rỗng không vì lệ thuộc nhau, danh lệ thuộc sắc, sắc lệ thuộc danh. Nên khi một cái tan rã thì cái kia cũng tan rã. Khi phân biệt danh sắc bằng những phương thức trên thì hành giả có chánh kiến, một sự thấy biết an lập trên trí tuệ, không mê mờ, vượt qua ngã tưởng. Đây gọi là kiến tịnh (diṭṭhivisuddhi) vậy.
Xem thêm ⇒ Thất Tịnh
|
Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)