A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de
Hiển duyên tuệ
(Paccayapariggahañāṇa)


Trí quán triệt duyên sanh của danh và sắc để dứt trừ hoài nghi tam thế, gọi là hiển duyên tuệ.

Hành giả quán triệt duyên sanh danh sắc bằng năm cách nghiệm, như sau:

a. Nghiệm tứ thực là duyên sanh danh sắc.



Hành giả suy xét thân danh sắc này không phải không có nguyên nhân, nhưng không phải nguyên nhân do đấng tạo hóa làm ra, mà nhân duyên hình thành danh sắc này là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực.

Đoàn thực là thức ăn như cơm, cháo, rau, củ... Chính đoàn thực làm chất nuôi dưỡng thân tứ đại này, đoàn thực làm duyên trợ cho sắc pháp.

Xúc thực là sáu xúc như nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. Sáu xúc ấy là duyên trợ sanh sáu thọ là nhãn thọ, nhĩ thọ, tỷ thọ, thiệt thọ, thân thọ và ý thọ.

Tư niệm thực là sáu tư (cetanā) như nhãn tư, nhĩ tư v.v..., là duyên trợ danh pháp đồng sanh, và tạo ra quả thức tục sinh, cùng sắc nghiệp tục sinh.

Thức thực là tâm, là thức uẩn. Tâm dẫn đầu tâm sở, thức trợ thọ tưởng hành; Tâm cũng tạo ra sắc tâm (cittajarūpa).

Khi đã thấy biết bốn thực là thức ăn cho danh sắc, là duyên trợ cho danh sắc sanh; Danh sắc quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều do bốn thực là điều kiện hình thành, ngay lúc ấy tất cả mối nghi ba thời nơi hành giả được rũ bỏ.

b. Nghiệm căn, cảnh, nghiệp, tâm... là duyên sanh danh sắc

Một cách khác để nghiệm duyên sanh danh sắc là nghiệm nhân gần của chúng. Như là:
  • Sáu căn và sáu cảnh làm duyên sanh của thức
  • Nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực là nhân sanh của sắc.


Do mắt và cảnh sắc phát sanh nhãn thức; Do tai và cảnh thinh phát sanh nhĩ thức; Do mũi và cảnh khí phát sanh tỷ thức; Do lưỡi và cảnh vị phát sanh thiệt thức; Do thân và cảnh xúc phát sanh thân thức; Do ý và cảnh pháp phát sanh ý thức. Đó là duyên cho danh nói đại loại.

Ngoài ra, còn có duyên sanh nói theo cá biệt, như nhân sanh tâm thiện là do thân cận bậc trí hiền, nghe chánh pháp, khéo tác ý... Và, nhân sanh tâm bất thiện là do thân cận kẻ ngu, không nghe chánh pháp, không khéo tác ý... Hoặc, nhân sanh tâm quả là nghiệp thiện và bất thiện...

Nói đến nhân sanh của sắc là nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực:
  1. Nghiệp là nhân sanh ra sắc nghiệp (kammajarūpa). Nghiệp đây là nghiệp thiện hoặc bất thiện trong quá khứ mới tạo ra sắc hiện tại.
  2. Tâm là nhân sanh ra sắc tâm (cittajarūpa). Tâm đây là tâm đang sanh mới tạo ra sắc đồng sanh.
  3. Thời tiết là nhân sanh ra sắc quý tiết (nhiệt lượng - utujarūpa), và
  4. Vật thực là nhân sanh ra sắc vật thực (dưỡng tố - āhārajarūpa).
Thời tiết và vật thực đây là vào sát-na trụ của chúng mới tạo ra sắc.

Khi hành giả đã thấy danh sắc có duyên sanh là những điều kiện như vậy, dù danh sắc quá khứ hay vị lai cũng như danh sắc hiện tại, thì sự hoài nghi trong ba thời của vị ấy được chấm dứt.

c. Nghiệm theo y tương sinh nghịch chiều

Một cách khác nữa, hành giả quán triệt duyên danh sắc bằng cách nghiệm theo y tương sinh nghịch chiều.

Hành giả xét thấy các hành, tức danh sắc, bị già chết, mới nghiệm rằng: Sự già chết của danh sắc này có do sinh làm tập khởi; Sinh có do hữu làm tập khởi; Hữu có do thủ làm tập khởi; Thủ có do ái làm tập khởi; Ái có do thọ làm tập khởi; Thọ có do xúc làm tập khởi; Xúc có do lục nhập làm tập khởi; Lục nhập có do danh sắc làm tập khởi; Danh sắc có do thức làm tập khởi; Thức có do hành làm tập khởi; Hành có do vô minh làm tập khởi.

Đó là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi hành giả nghiệm thấy các hành bị già chết này có tập khởi, là duyên sanh ra chúng, có nhân sanh chứ không phải không nhân sanh, khi ấy vị này bỏ được hoài nghi ba thời.


d. Nghiệm theo y tương sinh thuận chiều

Một cách khác nữa, hành giả quán triệt duyên danh sắc bằng cách nghiệm theo y tương sinh thuận chiều.

Hành giả xét thấy thân ngũ uẩn khổ đau này xuất phát từ vô minh, do vô minh làm duyên cho hành; Hành làm duyên cho thức; Thức làm duyên cho danh sắc; Danh sắc làm duyên cho lục nhập; Lục nhập làm duyên cho xúc; Xúc làm duyên cho thọ; Thọ làm duyên cho ái; Ái làm duyên cho thủ; Thủ làm duyên cho hữu; Hữu làm duyên cho sanh; Sanh làm duyên cho già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Khi hành giả nghiệm thấy các hành sanh khởi do cái này có mặt nên cái kia có mặt, thì các nghi hoặc ba thời được đoạn trừ.

e. Nghiệm theo ba luân duyên sinh

Một cách khác nữa, hành giả nghiệm duyên sanh danh sắc theo nhân quả luân hồi. Có ba luân là
  1. Phiền não luân (kilesavaṭṭa): vô minh, ái, thủ.
  2. Nghiệp luân (kammavaṭṭa): hành, hữu.
  3. Quả luân (vipākavaṭṭa): thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, già chết.
Phiền não luân duyên cho nghiệp luân ở hai thời: Thời quá khứ “vô minh duyên cho hành”; Thời hiện tại “Ái, thủ duyên cho hữu”. Nghiệp luân duyên cho quả luân: Nhân quá khứ quả hiện tại là “Hành duyên thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ”; Nhân hiện tại quả vị lai là “Hữu duyên sanh, già chết”.

Hành giả thấy các hành do vòng nhân quả nghiệp báo mà hiện khởi; Quá khứ, hiện tại, vị lai cũng là vậy; Thì vị ấy bỏ được các mối hoài nghi ba thời.

Tóm lại, khi hành giả nghiệm thấy duyên danh sắc theo năm cách trên, vị ấy vượt qua mọi nghi hoặc, chẳng những thế mà còn dẹp tan được hoài nghi về Phật, về Pháp, về Tăng, về tam học, về y tương sinh, và cũng loại trừ được 62 tà kiến nữa.

Trí được an lập do quán triệt các duyên tạo danh sắc và vượt qua hoài nghi, ấy gọi là hiển duyên tuệ. Đây chính là giai đoạn nghi tịnh (kaṅkhāvitaraṇavisuddhi) vậy.

  1. Phân định danh sắc tuệ (Nāmarūpaparicchedañāṇa)
  2. Hiển duyên tuệ (Paccayapariggahañāṇa)
  3. Thẩm sát tuệ (Sammasanañāṇa)
  4. Sanh diệt tuệ (Udayabbayañāṇa)
  5. Hoại tán tuệ (Bhaṅgañāṇa)
  6. Kinh úy tuệ (Bhayañāṇa)
  7. Nguy hại tuệ (Ādīnavañāṇa)
  8. Yếm ố tuệ (Nibbidāñāṇa)
  9. Dục thoát tuệ (Muñcitukayatāñāṇa)
  10. Giản trạch tuệ (Paṭisaṅkhāñāṇa)
  11. Hành xả tuệ (Saṅkhārupekkhāñāṇa)
  12. Thuận thứ tuệ (Anulomañāṇa)
  • Tuệ xuất khởi minh sát (Vipassanāvuṭṭhānagāminī)

    Xem thêm ⇒ Thất Tịnh

  • Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)


    A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

    © www.tudieu.de