A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de
Thẩm sát tuệ
(Sammasanañāṇa)

Sau khi thành tựu kiến tịnh với tuệ phân định danh sắc, thành tựu đoạn nghi tịnh với tuệ hiển duyên danh sắc, hành giả bắt đầu tu tập tùy quán vô thường, khổ não, vô ngã đối với các hành (saṅkhāra: pháp hữu vi, tức là danh sắc). Cần phải hiểu rằng đối tượng tùy quán tu tập tuệ ở đây là danh sắc, ngũ uẩn, các hành hay hữu vi, đều đồng nghĩa chỉ khác tên gọi; Lại nữa, danh sắc, ngũ uẩn, các hành đối tượng tu tập tuệ của hành giả chỉ là pháp hiệp thế thôi.

Gọi là tuệ thẩm sát (sammasanañāṇa) là trí quán xét ngũ uẩn cho thấy rõ tam tướng vô thường, khổ não, vô ngã; Hay trí quán xét tam tướng vô thường – khổ não – vô ngã là đặc tính của ngũ uẩn.

Hành giả khởi sự bằng cách chuyên chú quán xét tóm lược các uẩn quá khứ, vị lai, hiện tại, như sau:
  • “Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội phần, ngoại phần, thô thiển, vi tế, xấu, tốt, xa, gần, tất cả sắc ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã”.
  • “Bất cứ thọ nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội phần, ngoại phần, thô, tế, xấu, tốt, xa, gần, tất cả thọ ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã”.
  • “Bất cứ tưởng nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội phần, ngoại phần, thô, tế, xấu, tốt, xa, gần, tất cả tưởng ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã”.
  • “Bất cứ hành nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội phần, ngoại phần, thô, tế, xấu, tốt, xa, gần, tất cả hành ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã”.
  • “Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội phần, ngoại phần, thô, tế, xấu, tốt, xa, gần, tất cả thức ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã”. (Ps. I, 53)
Hành giả tiến xa hơn, cũng bằng cách chuyên chú quán xét tóm lược các uẩn quá khứ, vị lai, hiện tại... nhưng xoáy vào ý nghĩa của tam tướng. Như sau:
  • “Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại... tất cả sắc ấy là vô thường vì hoại tiêu, là khổ vì kinh khủng, là vô ngã vì không cốt lõi”.
  • “Bất cứ thọ nào thuộc quá khứ, vị lai hiện tại... tất cả thọ ấy là vô thường vì hoại tiêu, là khổ vì kinh khủng, là vô ngã vì không cốt lõi”.
  • “Bất cứ tưởng nào thuộc quá khứ, vị lai hiện tại... tất cả tưởng ấy là vô thường vì hoại tiêu, là khổ vì kinh khủng, là vô ngã vì không cốt lõi”.
  • “Bất cứ hành nào thuộc quá khứ, vị lai hiện tại... tất cả hành ấy là vô thường vì hoại tiêu, là khổ vì kinh khủng, là vô ngã vì không cốt lõi”.
  • “Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, vị lai hiện tại... tất cả thức ấy là vô thường vì hoại tiêu, là khổ vì kinh khủng, là vô ngã vì không cốt lõi”. (Ps. I, 53)
Đến đây, hành giả quán xét ngũ uẩn theo tam tướng chi tiết hơn.

Quán xét ngũ uẩn với các đặc tính của tam tướng;
- Tùy quán vô thường với 10 đặc tính;
- Tùy quán khổ với 25 đặc tính;
- Tùy quán vô ngã với 5 đặc tính.

Thấy năm uẩn ( Sắc / Thọ / Tưởng / Hành / Thức ) là:

  1. vô thường (aniccato)
  2. rã tan (palokato),
  3. biến động (calato),
  4. mỏng manh (pabhaṅguto),
  5. không bền vững (addhuvato),
  6. không cốt lõi (asārakato ),
  7. có như không (vibhavato),
  8. bị tạo tác (saṅkhatato),
  9. tự tánh biến đổi (vipariṇāmadhammato),
  10. tự tánh tử vong (maraṇadhammato).
  1. khổ (dukkhato),
  2. bệnh tật (rogato),
  3. như mụt ghẻ (gaṇḍato),
  4. như mũi tên (sallato),
  5. như dịch bệnh (ābādhato),
  6. như kẻ sát hại (vadhakato),
  7. như tai ương (aghato),
  8. như gốc tai ương (aghamūlato),
  9. như tai họa (upaddavato),
  10. hoạn nạn (ītito),
  11. nỗi sợ hãi (bhayato),
  12. mối đe dọa (upasaggato),
  13. sự nguy hại (ādīnavato),
  14. mồi của ma (mārāmisato),
  15. không an toàn (atāṇato),
  16. không chỗ trú (aleṇato),
  17. không chỗ nương (asaraṇato),
  18. cảnh lậu (sāsavato),
  19. cảnh phiền não (saṅkilesikato),
  20. phải sanh (jātidhammato),
  21. phải già (jarādhammato),
  22. phải bệnh (byādhidhammato),
  23. phải sầu (sokadhammato),
  24. phải bi (paridevadhammato),
  25. phải não (upāyāsadhammato).
  1. vô ngã (anattato),
  2. xa lạ (parato),
  3. trống hoang (rittato),
  4. trống rỗng (tucchato),
  5. trống không (suññato).


Quán ngũ uẩn với cách tán nhuyễn danh sắc. Như sau:

Hành giả quán sắc uẩn là vô thường – khổ – vô ngã với bảy khía cạnh:
  1. Thấy một đời người từ lúc sanh ra đến chết, thân này là vô thường, sanh rồi diệt, biến đổi, tạm bợ, không trường cửu; Thân này là khổ, vì trưởng thành tiến đến già, bị già chi phối, liên tục bị bức bách, khó chịu, không an lạc; Thân này là vô ngã, vì không thể làm gì được đối với các hành đã sanh khiến chúng đừng trụ, đừng già, đừng chết; Các hành trống rỗng, vô sở hữu chủ, không diễn tiến theo sự chi phối của một quyền năng.
  2. Thấy từng giai đoạn lứa tuổi thiếu niên, trung niên và lão niên. Giai đoạn thiếu niên sắc thân vô thường biến đổi, khổ bức bách, không có quyền chặn đứng các hành. Giai đoạn trung niên sắc thân vô thường biến đổi, khổ bức bách, không có quyền chặn đứng các hành. Giai đoạn lão niên sắc thân vô thường biến đổi, khổ bức bách, không có quyền chặn đứng các hành.
  3. Thấy sắc do vật thực tạo, tức là sắc thân lúc đói lúc no. Sắc này bị chi phối bởi vô thường, khổ não, vô ngã.
  4. Thấy sắc do thời tiết tạo, tức là sắc thân lúc nóng lúc lạnh. Sắc này bị chi phối bởi vô thường, khổ não, vô ngã.
  5. Thấy sắc do tâm sanh, tức là sắc hành động đi, đứng, nằm, ngồi, cử chỉ, nói, cười, khóc, hơi thở… Sắc tâm này bị chi phối bởi vô thường, khổ não, vô ngã.
  6. Thấy sắc nghiệp tạo, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, giới tính… Sắc nghiệp này bị chi phối bởi vô thường, khổ não, vô ngã.
  7. Thấy sắc tự nhiên, tức là sắc ngoại giới như đất, đá, cỏ, cây, sắt, kẽm, đồng, chì, vàng, bạc… Sắc ngoại giới ấy cũng bị chi phối bởi vô thường – khổ não – vô ngã.
Hành giả quán danh uẩn thọ – tưởng – hành – thức là vô thường – khổ não – vô ngã với năm khía cạnh:
  1. Quán theo nhóm tâm, tức là nhóm tâm thiện, nhóm tâm bất thiện, nhóm tâm vô ký. Hành giả quán xét danh uẩn thiện là vô thường – khổ – vô ngã; Danh uẩn bất thiện là vô thường – khổ – vô ngã; Danh uẩn vô ký là vô thường – khổ – vô ngã. Đó là quán danh uẩn theo nhóm.
  2. Quán theo tâm cặp kè, tức là tâm đi cặp với sắc. Hành giả quán cái tâm mà biết sắc là vô thường – khổ – vô ngã; Chính tâm ấy cũng là vô thường – khổ – vô ngã... Đó là theo tâm cặp kè.
  3. Quán theo tâm thứ tự, tức là thấy tâm trước, tâm sau, tâm sau nữa... cho đến mười tâm. Lấy ví dụ: tâm quán sắc vô thường là tâm một; Tâm quán tâm một là tâm hai; Tâm quán tâm hai là tâm ba; Tâm quán tâm ba là tâm bốn; Tâm quán tâm bốn là tâm năm... Tâm quán tâm chín là tâm mười. Hành giả quán xét tâm hai là vô thường – khổ – vô ngã. Quán xét tâm ba cũng là vô thường – khổ – vô ngã v.v… Quán xét tâm mười cũng là vô thường – khổ – vô ngã. Đó là theo tâm thứ tự.
  4. Quán theo sát-na tâm, tức là tâm lộ diễn tiến trong lộ trình tâm. Lấy ví dụ lộ trình tâm nhãn môn: sát-na khai ngũ môn, sát-na nhãn thức, sát-na tâm tiếp thâu, sát-na tâm thẩm tra, sát-na tâm xác định, bảy sát-na tâm đổng lực, hai sát-na tâm na cảnh, rồi sát-na hữu phần… Hành giả quán xét tâm khai ngũ môn là vô thường – khổ – vô ngã; Tâm nhãn thức là vô thường – khổ – vô ngã v.v… Đó gọi là theo sát-na tâm.
  5. Quán theo tính năng từ bỏ tà kiến, kiêu mạn và khát ái. Hành giả quán thấy rằng: “Nếu các hành thật sự là hữu ngã thì cũng nên chấp nhận là ngã, nhưng thực chất các hành là vô ngã thì không nên chấp nhận là ngã. Do đó các hành là vô ngã, nghĩa là không diễn tiến theo quyền năng nào chi phối cả!” Như vậy là từ bỏ tà kiến.
Rồi hành giả quán xét rằng: “Nếu các hành thật sự là thường thì cũng nên chấp nhận là thường, nhưng thực chất các hành là vô thường thì không nên chấp nhận là thường. Do đó các hành là vô thường, nghĩa là có rồi không.” Như vậy là từ bỏ kiêu mạn.Rồi hành giả quán xét rằng: “Nếu các hành thật sự là lạc thì cũng nên chấp nhận là lạc, nhưng thực chất các hành là khổ thì không nên chấp nhận là lạc. Do đó các hành là khổ, nghĩa là bị bức bách bởi sanh diệt.” Như vậy là trừ bỏ khát ái.

Đó gọi là theo tính năng trừ bỏ.

Hành giả tùy quán vô thường, khổ não, vô ngã đối với các hành là sắc uẩn danh uẩn như vậy có khả năng dứt bỏ thường tưởng, dứt bỏ lạc tưởng, dứt bỏ ngã tưởng… Đây gọi là thẩm sát tuệ.

Tiếp theo thẩm sát tuệ, hành giả nỗ lực hơn để đạt đến các tuệ quán cao hơn, thuần thục hơn, như sanh diệt tuệ v.v…

  1. Phân định danh sắc tuệ (Nāmarūpaparicchedañāṇa)
  2. Hiển duyên tuệ (Paccayapariggahañāṇa)
  3. Thẩm sát tuệ (Sammasanañāṇa)
  4. Sanh diệt tuệ (Udayabbayañāṇa)
  5. Hoại tán tuệ (Bhaṅgañāṇa)
  6. Kinh úy tuệ (Bhayañāṇa)
  7. Nguy hại tuệ (Ādīnavañāṇa)
  8. Yếm ố tuệ (Nibbidāñāṇa)
  9. Dục thoát tuệ (Muñcitukayatāñāṇa)
  10. Giản trạch tuệ (Paṭisaṅkhāñāṇa)
  11. Hành xả tuệ (Saṅkhārupekkhāñāṇa)
  12. Thuận thứ tuệ (Anulomañāṇa)
  • Tuệ xuất khởi minh sát (Vipassanāvuṭṭhānagāminī)

    Xem thêm ⇒ Thất Tịnh

  • Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)


    A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

    © www.tudieu.de