A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de
Sanh diệt tuệ
(Udayabbayañāṇa)


Trong Paṭisambhidāmagga, ngài Sāriputta đã thuyết: “Trí quán sát sự biến đổi của các pháp hiện tại gọi là sanh diệt tuệ” (Ps. I, 1).

Điều này nên hiểu là tùy quán sanh diệt danh sắc phải được thực hiện chỉ đối với các pháp xảy ra hiện tại, không phải đối với các pháp quá khứ hay vị lai; Vì chỉ có pháp hiện tại mới thấy được danh sắc đang khởi sanh (là tướng sanh) và đang biến diệt (là tướng diệt) (Ps, 808).

Về phương pháp tiến hành sanh diệt tuệ, trước tiên là quán sát sanh diệt vắn tắt.

Như thế nào?

Hành giả quán: “Sắc đang hiện khởi, đang phát khởi, vậy là sanh;

Sắc đang biến đổi, đang biến hoại, vậy là diệt.” Quán như vậy gọi là tuệ sanh diệt về sắc.
Hành giả quán:
“Thọ đang hiện khởi, là sanh; Thọ đang biến đổi, là diệt.”
“Tưởng đang hiện khởi, là sanh; Tưởng đang biến đổi, là diệt.”
“Hành đang hiện khởi, là sanh; Hành đang biến đổi, là diệt.”
“Thức đang hiện khởi, là sanh; Thức đang biến đổi, là diệt.”

Hành giả quán thọ, tưởng, hành, thức đang hiện khởi, đang biến đổi như vậy gọi là tuệ sanh diệt về danh.

Quán tánh sanh diệt của danh sắc, hành giả hiểu rằng: Tất cả sắc pháp và danh pháp từ không mà có, chẳng phải khởi lên từ một đống hay một kho chứa nào; Và khi diệt, chúng tan biến từ có rồi không, chẳng diệt rồi đi về hướng nào, hay trở về lại một nơi tàng trữ.

Sau khi tác ý sự sanh diệt của danh sắc vắn tắt như vậy, hành giả lại khéo tác ý nhận xét danh sắc sanh diệt theo duyên (paccayato) và theo sát-na (khaṇato).

Nhận xét theo duyên là duyên tập khởi (paccayasamudayatthena) và duyên hoại diệt (paccayanirodhatthena). Nhận biết theo sát-na là thấy hiện tượng sanh lên (nibbattilakkhaṇaṃ) và hiện tượng biến đổi (vipariṇāmalakkhaṇaṃ).

Hành giả thấy sự sanh của sắc uẩn do duyên tập khởi như sau:
“Sắc khởi lên do vô minh làm tập khởi, do ái làm tập khởi, do nghiệp làm tập khởi, do thức ăn tập khởi.” Thấy sự diệt của sắc uẩn do duyên hoại diệt như sau: “Sắc hoại diệt do vô minh hoại diệt, do ái hoại diệt, do nghiệp hoại diệt, do thức ăn hoại diệt,”

Hành giả thấy sự sanh của thọ uẩn do duyên tập khởi như sau:
“Thọ khởi lên do vô minh tập khởi, do ái tập khởi, do nghiệp tập khởi, do xúc tập khởi”. Thấy sự diệt của thọ uẩn do duyên hoại diệt như sau: “Thọ hoại diệt do vô minh hoại diệt, do ái hoại diệt, do nghiệp hoại diệt, do xúc hoại diệt.”

Hành giả thấy sự sanh, sự diệt của tưởng uẩn… của hành uẩn… cũng giống như cách của thọ uẩn.

Hành giả thấy sự sanh của thức uẩn do duyên tập khởi như sau:
“Thức khởi lên do vô minh tập khởi, do ái tập khởi, do nghiệp tập khởi, do danh sắc tập khởi”. Thấy sự diệt của thức uẩn do duyên hoại diệt như sau: “Thức hoại diệt do vô minh hoại diệt, do ái hoại diệt, do nghiệp hoại diệt, do danh sắc hoại diệt”.

Như vậy gọi là nhận xét danh sắc sanh diệt theo duyên.

Hành giả thấy sự sanh của sắc, thọ, tưởng, hành, thức như sau:
“Đây là hiện tướng sanh lên của sắc… của thọ… của tưởng… của hành… của thức”. Thấy sự diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, thức như sau: “Đây là hiện tướng biển đổi của sắc... của thọ… của tưởng… của hành… của thức”.

Như vậy gọi là nhận xét danh sắc sanh diệt theo sát-na.

Khi hành giả thấy sanh diệt của các uẩn do duyên và do sát-na như vậy thì trí thanh tịnh hơn, hiển lộ bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo dễ dàng hơn, thấu đạt lý y tương sinh rõ ràng hơn. Và, nhờ thấy duyên sanh, duyên diệt của năm uẩn nên hành giả khéo dứt bỏ thường kiến, đoạn kiến, ngã kiến, vô hành kiến.

Lại nữa, vô ngã tướng hiện rõ do thấy duyên sanh; Vô thường tướng hiện rõ do thấy duyên diệt; Khổ não tướng hiện rõ do thấy pháp hữu vi bị sanh diệt áp bức; Thực tính tướng hiện rõ do xác định sự sanh diệt của pháp hữu vi.

Tuy nhiên, ở thời điểm này hành giả còn sơ cơ, trí quán sanh diệt trong giai đoạn mới mẻ, non nớt, gọi là taruṇudayabbayañāṇa (sơ cơ sanh diệt tuệ); Trong giai đoạn tuệ quán sơ cơ này hành giả có thể phát sinh những ấn chứng dễ làm cho ngộ nhận mình đã đắc chứng quả. Hành giả đang đứng giữa đạo và phi đạo (đúng đường và sai đường); Nếu hành giả sáng suốt nhận thức các ấn chứng phát sanh ấy là hữu vi, là y tương sinh, là vô thường, là tánh hoại, là tánh diệt, là tánh ly, là tánh biến mất, thì hành giả không nao núng, không bị dao động với các ấn chứng tùy phiền não.

Nói thêm về 10 tùy phiền não (upakilesa) là ấn chứng phát sanh cho hành giả tu tập tuệ quán giai đoạn sơ cơ.

Đó là:
  1. Ánh sáng (obhāsa) là ánh sáng của thiền quán. Khi hành giả tác ý tướng vô thường thì ánh sáng phát sanh, có vị phát sáng nơi tọa thiền, có vị phát sáng trong phòng ở, có vị phát sáng ra ngoài phòng, hay tỏa sáng xa hơn… Khi ánh sáng phát sanh có thể hành giả chấp thủ: “Ánh sáng này trước đây chưa từng sanh, nay phát sanh, có lẽ ta đã đắc đạo quả rồi chăng!” Như vậy hành giả bị ngộ nhận. Vị ấy bỏ dở đề mục quán, chỉ tọa hưởng ánh sáng ấy.
  2. Tiệp tuệ (ñāṇa) là trí của thiền quán. Khi hành giả quán sát danh sắc thì trí tuệ phát sanh, minh mẫn, sáng suốt, khác hẳn trước đây phải khó khăn ghi nhận án xứ. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đắc đạo.
  3. Hoan hỷ (pīti) là sự no vui của thiền quán. Khi hành giả chuyên nhất tu quán có thể phát sanh năm thứ hỷ là tiểu đãn hỷ, khoảnh khắc hỷ, hải triều hỷ, khinh thăng hỷ, sung mãn hỷ. Hiện tượng này làm cho hành giả ngộ nhận đắc đạo.
  4. Tịnh an (passaddhi) là sự yên tĩnh của thiền quán. Khi hành giả chuyên nhất tu quán bỗng thấy thân tâm lắng yên không nặng nề mệt nhọc, thích nghi trong tư thế. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đắc đạo.
  5. An lạc (sukha) là sự an lạc của thiền quán. Khi hành giả chuyên nhất tu quán thì một niềm hạnh phúc khởi lên, vị ấy có cảm giác lạc an, toàn thân biến mãn thọ lạc. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đã đắc đạo.
  6. Xác tín (adhimokkha) là đức tin. Khi hành giả chuyên nhất tu quán chợt khởi lên niềm tin mãnh liệt, đó là tín tương ưng với tuệ, khiến tâm thuần tịnh. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đã đắc đạo.
  7. Cần dõng (paggaha) là tinh tấn. Có sự tinh tấn tột độ khởi lên cho hành giả khi chuyên nhất tu quán, đó là cần tương ưng với tuệ. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đã đắc đạo.
  8. Chú niệm (upaṭṭhāna) là niệm sắc bén. Khi chuyên nhất tu quán, có lúc hành giả an trú niệm khít khao, vững chắc, không động, không rung chuyển, bất cứ đề mục nào vị ấy chú tâm, tác ý đến đều hiện rõ. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đã đắc đạo.
  9. Xả nhiên (upekkhā) là xả minh sát (vipassanupekkhā) và xả hướng tâm (āvajjanupekkhā). Đây không phải là thọ xả, mà là trạng thái thản nhiên đối với các hành. Hành giả có tâm thái bình thản, lạnh lùng một cách cao khiết với pháp hữu vi, không thấy buồn vui gì nữa như bậc đã ly phiền não vậy. Hiện tượng này có thể làm cho hành giả ngộ nhận đã đắc đạo.
  10. Khát vọng (nikanti) là sự khao khát, mong mỏi, ham thích các ấn chứng thiền đã phát sanh như ánh sáng, tiệp tuệ v.v… khát vọng ấn chứng có mãi, điều này sẽ làm cho hành giả xao lãng đề mục thiền quán.
Trong 10 tùy phiền não thiền quán, 9 ấn chứng như ánh sáng… xả nhiên, không phải là tính chất bất thiện, mà chỉ là điều kiện sanh phiền não. Còn, tùy phiền não thứ 10 (khát vọng - nikanti) vừa là bất thiện, vừa là điều kiện sanh phiền não.

Mười tùy phiền não này là điều kiện cho sanh ba sở chấp: kiến chấp, mạn chấp và ái chấp. Khi hành giả nghĩ rằng: “Ánh sáng… đã phát sanh nơi ta”, như vậy là kiến chấp (diṭṭhigāho). Khi hành giả nghĩ rằng: “Ôi, ánh sáng khả hỷ khả ý… đã phát sanh rồi”, như vậy là mạn chấp (mānagāho). Khi hành giả vui thích với ánh sáng v.v… là ái chấp (taṇhāgāho).

Mười tùy phiền não quán chỉ khởi lên nơi vị hành giả đi đúng hướng, chuyên chú đề mục thiền một cách nghiêm mật; Chúng không khởi lên đối với vị thánh đã thể nhập chân lý, không khởi lên đối với người hành sai lạc, không khởi lên đối với người biếng nhác, xao lãng đề mục thiền. Những vị hành giả tu quán buổi sơ cơ mới có thể sanh tùy phiền não.

Trong giai đoạn này hành giả cố gắng duy trì phương pháp tùy quán, xác định được đâu là đạo (maggo), đâu là phi đạo (amaggo). Sự dính mắc các ấn chứng là phi đạo; Sự thoát khỏi các tùy phiền não là đạo.

Chính đây là đạo phi đạo tri kiến tịnh (maggāmaggañāṇadassanavisuddhi) vậy.

Một số hành giả đạt đến sanh diệt tuệ buổi đầu phát sanh mười tùy phiền não, làm cho tam tướng không hiện rõ do nhân không tác ý (amanasikārā) và bị che khuất (paṭicchannattā) [Vô thường tướng không hiện rõ do không tác ý đến hiện tướng sanh diệt, và bị che khuất bởi tính liên tục của dòng tâm thức, tính kế tục của sắc pháp; Khổ não tướng không hiện rõ do không tác ý đến hiện tượng luôn bức bách, và bị che khuất bởi đổi oai nghi cho dễ chịu; Vô ngã tướng không hiện rõ do không tác ý phân tách tố chất khác biệt, và bị che khuất bởi tính nguyên khối nhìn chung chung].

Sau khi hành giả đã thoát khỏi tùy phiền não, nên tinh tấn triển khai tuệ quán sanh diệt để làm hiện rõ tam tướng [Khi xác định sự sanh diệt, loại bỏ tính liên tục thì vô thường tướng hiện rõ; Khi tác ý sự thường xuyên bị bức bách, bỏ đổi oai nghi thì khổ não tướng hiện rõ; Khi phân tích tố chất sai biệt và chia tách cái khối danh sắc thì vô ngã tướng hiện rõ].

Khi tam tướng hiện rõ, thì tuệ sanh diệt của hành giả nhận biết: “Năm uẩn là vô thường vì sanh diệt, biến đổi khác, có rồi không;

Năm uẩn là khổ, vì cái gì vô thường cái ấy là khổ, luôn luôn bị bức bách; Năm uẩn là vô ngã, vì cái gì khổ cái ấy là vô ngã, không diễn tiến theo một quyền năng tác động”.

Hành giả quán xét điều này theo thực tính pháp bằng “dõng lực sanh diệt tuệ” (balavudayabbayañāṇa), đây là cái tên gọi cho tuệ sanh ở giai đoạn đã thoát khỏi tùy phiền não và trở thành sắc sảo, bước vào ngưỡng hành lộ tri kiến tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi).

  1. Phân định danh sắc tuệ (Nāmarūpaparicchedañāṇa)
  2. Hiển duyên tuệ (Paccayapariggahañāṇa)
  3. Thẩm sát tuệ (Sammasanañāṇa)
  4. Sanh diệt tuệ (Udayabbayañāṇa)
  5. Hoại tán tuệ (Bhaṅgañāṇa)
  6. Kinh úy tuệ (Bhayañāṇa)
  7. Nguy hại tuệ (Ādīnavañāṇa)
  8. Yếm ố tuệ (Nibbidāñāṇa)
  9. Dục thoát tuệ (Muñcitukayatāñāṇa)
  10. Giản trạch tuệ (Paṭisaṅkhāñāṇa)
  11. Hành xả tuệ (Saṅkhārupekkhāñāṇa)
  12. Thuận thứ tuệ (Anulomañāṇa)
  • Tuệ xuất khởi minh sát (Vipassanāvuṭṭhānagāminī)

    Xem thêm ⇒ Thất Tịnh

  • Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)


    A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

    © www.tudieu.de