| ⇐ | Yếm ố tuệ (Nibbidāñāṇa) | ⇒ |
|
Khi thấy các hành là nguy hiểm, nguy hại bởi tính chất hoại tán, thì hành giả khởi lên chán nản, nhàm chán, không hoan hỷ đối với tất cả hành thuộc sanh hữu, sanh loại, sanh thú, thức trú, hữu tình cư, mà chỉ ưa thích việc tu tập tuệ quán thôi. Cũng ví như chim hoàng hạc ở chân núi không thích thú với ao đầm hôi hám ở cổng làng tiện dân, mà chỉ thích miền bảy hồ dưới chân núi thế nào, thì hành giả cũng vậy, không thích thú với các hành hoại tán nguy hiểm, chỉ thích thú bảy tuệ quán đã tu tập thành tựu. Hoặc cũng như sư tử chúa muôn loài, không thích thú trong cái chuồng bằng vàng mà chỉ thích núi đồi Hy-mã-lạp sơn rộng ba ngàn dặm. Cũng thế, hành giả không thích thú ba cõi nhàn cảnh, mà chỉ thích thú trong ba tùy quán tu tập thôi. Hoặc cũng như bạch tượng sáu ngà có đại thần lực, nó không hoan hỷ chốn phồn hoa thành thị mà chỉ vui thích với rừng sâu núi thẳm. Cũng vậy, hành giả không hoan hỷ với bất cứ pháp hữu vi nào, chỉ hoan hỷ trong trạng thái vô vi tịch tịnh và tâm thiên về, hướng về pháp ấy. Cả ba tuệ là kinh úy tuệ, nguy hại tuệ và yếm ố tuệ đều là trí tùy quán các hành có tính chất hoại tán; Khi trí thấy các hành đáng sợ thì gọi là kinh úy tuệ, trí ấy nhận ra sự nguy hiểm của các hành thì gọi là nguy hại tuệ, trí ấy đến trạng thái nhàm nhán đối với các hành thì gọi là yếm ố tuệ. Bởi thế, trong kinh văn Pāli có nói: “Yā ca bhayatupaṭṭhāne paññā, yañca ādīnave ñāṇaṃ yā ca nibbidā. Ime dhammā ekatthā, byañjanam-eva nānan’ti. Tuệ kinh úy, tuệ nguy hại và tuệ yếm ố, đều đồng nghĩa chỉ khác văn tự thôi” (Ps. II, 63). Yếm ố tuệ cũng thuộc về hành lộ tri kiến tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi).
Xem thêm ⇒ Thất Tịnh
|
Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)