| ⇐ | Giản trạch tuệ (Paṭisaṅkhāñāṇa) | ⇒ |
|
Giản trạch là quán xét lại, nhận định lại, suy nghĩ lại, kiểm chứng một lần nữa. Sau khi hành giả khởi lên dục thoát tuệ muốn thoát khỏi các hành thuộc sanh hữu sanh loại… vị ấy quán xét lại các hành ấy là vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh để xác định ngõ thoát và chứng níp-bàn nên gọi là giản trạch tuệ. Trước đây, tam tướng tùy quán đã hiện rõ khi vừa đạt đến thẩm sát tuệ rồi, nhưng trình độ thiền tuệ thẩm quán vẫn còn non yếu chưa già dặn, chưa tinh thục nên chưa đủ năng lực quán triệt tam tướng một cách toàn diện, chu đáo. Còn khi chứng đến giản trạch tuệ này thì trí của hành giả khoáng đạt hơn để có thể dựa vào danh sắc mà suy quán tam tướng lại một lần nữa làm cơ sở cho chứng đắc đạo quả. Hành giả giản trạch các hành là vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh như thế nào? Vị ấy quán xét các hành là vô thường, vì không liên tục, tạm bợ, bị giới hạn sanh và diệt, rã tan, biến đổi, mỏng manh, không bền, có như không, phải chết… Vị ấy quán xét các hành là khổ, vì luôn bị bức xúc, khó chịu, căn cứ khổ đau, nỗi sợ hãi, mối đe dọa, sự nguy hại, mồi của ma, không an toàn, không chỗ trú, không chỗ nương, là cảnh lậu, cảnh phiền não, phải sanh, phải già, phải bệnh, phải sầu, phải bi, phải não… Vị ấy quán xét các hành là bất tịnh, phụ họa theo đặc tính khổ, không sạch, hôi hám, ghê tởm, gớm ghiếc, dù ngụy trang cũng không đẹp, dị dạng, khả ố… Vị ấy quán xét các hành là vô ngã vì xa lạ, trống rỗng, trống hoang, trống không, vô sở hữu chủ, không diễn tiến theo một quyền năng… Hành giả quán xét lại các hành là vô thường, khổ não, bất tịnh, vô ngã như vậy để mưu cầu giải thoát. Trước đây khi thẩm sát tuệ sanh khởi tùy quán vô thường khổ vô ngã, hành giả thấy các hành đáng sợ, nguy hiểm, nhàm chán, muốn thoát; Bây giờ cũng quán sát lại tam tướng nhưng hành giả bình tĩnh và tìm phương cách thoát. Điều này có thể hiểu qua ví dụ người bắt cá: Một anh nọ cầm cái nơm đi bắt cá. Gặp chỗ nước nông nghi là có cá, anh ta chụp cái nơm xuống rồi thò tay vào miệng nơm mò đụng phải cái gì như con cá, anh ta hí hửng nắm bắt kéo ra mới biết đó là con rắn đầu ba khoang, biết là con rắn độc, anh ta sợ cuống lên, thấy nguy hiểm, ngao ngán, muốn thoát khỏi nó; Anh chàng liền nghĩ cách ném con rắn đi, anh ta lẹ làng nắm cái đuôi rắn và quay tít để con rắn không cắn được, rồi lấy trớn ném con rắn ra thật xa. Anh ta bình tĩnh lại, nghĩ rằng thế là thoát nạn. Ví dụ này để mô tả từng giai đoạn tuệ quán của hành giả. Trước đây, hành giả hoan hỷ với các hành là thường, lạc, ngã, tịnh (như anh nọ hí hửng tưởng là con cá trong cái nơm). Rồi hành giả tu tập tùy quán thấy các hành là vô thường, khổ não, vô ngã (như anh nọ nhận ra vật nắm trong tay là con rắn đầu ba khoang). Hành giả đạt tới kinh úy tuệ khi thấy các hành đáng sợ (như anh kia sợ cuống lên khi thấy là con rắn độc). Nguy hại tuệ khởi lên nơi hành giả thấy các hành là nguy hiểm như anh kia biết rắn độc nguy hiểm). Hành giả phát sanh tuệ yếm ố đối với các hành (như anh kia ngao ngán con rắn). Dục thoát tuệ khởi lên cho hành giả (như anh kia muốn thoát khỏi con rắn). Giản trạch tuệ là quán xét lại ba đặc tính của các hành để mưu cầu giải thoát (như anh chàng nghĩ cách ném con rắn đi để thoát thân vậy). Giản trạch tuệ đã khởi lên nơi hành giả, trí ấy phát sanh do quán sát cái gì ? Khi hành giả tác ý vô thường thì trí phát sanh do quán sát tướng (nimitta), khi hành giả tác ý khổ thì trí phát sanh do quán sát sự diễn tiến (pavatta), khi hành giả tác ý vô ngã thì trí phát sanh do quán sát tướng và sự diễn tiến (nimittapavatta). Nghĩa là, quán sát tướng tức là nghĩ đến tướng sanh diệt của các hành tạm bợ, không bền vững; Quán sát sự diễn tiến tức là nghĩ đến sự diễn tiến của các hành luôn bị bức xúc, khó chịu; Quán sát tướng và sự diễn tiến tức là nghĩ đến sự hiện hữu của các hành trống rỗng, không chủ quyền. Giản trạch tuệ là như vậy. Tuệ này cũng thuộc về hành lộ tri kiến tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi).
Xem thêm ⇒ Thất Tịnh
|
Trích Thanh Tịnh Đạo yếu lược (TK Giác Giới)