| Pāḷi | Tiếng Việt |
| A. Suttantabhājanīyaṃ | A. Phân tích theo Kinh |
| Dukkhasaccaṃ | Khổ thánh đế |
| Samudayasaccaṃ | Khổ tập thánh đế |
| Nirodhasaccaṃ | Khổ diệt thánh đế |
| Maggasaccaṃ | Thánh đế tiến hành nhân diệt khổ |
| B. Abhidhammabhājanīyaṃ | B. Phân tích theo Vi Diệu Pháp |
| Aṭṭhāṅgikavāra | Phần bát chi |
| Pañcaṅgikavāra | Phần ngũ chi đạo |
| Sabbasaṅgāhikavāra | Phần tất cả chi |
| Dukkhasaccaṃ | Khổ thánh đế |
| 190. Tattha katamaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ? Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yaṃ picchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. | 145. Khổ thánh đế đó ra sao? Sanh khổ, già khổ, tử khổ, sầu, khóc, khổ, ưu, ai, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ, tóm tắt ngũ thủ uẩn khổ. |
| 191. Tattha katamā jāti? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho – ayaṃ vuccati ‘‘jāti’’. | 146. Sanh đó ra sao? Sự sanh, cách sanh hoàn toàn, thái độ lướt xuống sanh ra riêng biệt, sự hiện bày của uẩn, sự đặng xứ, trong mỗi chúng sanh, của những chúng sanh. Dù thế nào đây gọi là sanh. |
| ... | ... |
| 196. Tattha katamaṃ dukkhaṃ? Yaṃ kāyikaṃ asātaṃ kāyikaṃ dukkhaṃ kāyasamphassajaṃ asātaṃ dukkhaṃ vedayitaṃ kāyasamphassajā asātā dukkhā vedanā – idaṃ vuccati ‘‘dukkhaṃ’’. | 151. Khổ đó ra sao? Sự không vui thích thân, sự khổ thân, sự hưởng cảnh không thích hợp thành khổ sanh từ thân xúc, thái độ hưởng cảnh không vui sướng thành khổ sanh từ thân xúc, dù thế nào đây gọi là khổ. |
| 197. Tattha katamaṃ domanassaṃ? Yaṃ cetasikaṃ asātaṃ cetasikaṃ dukkhaṃ cetosamphassajaṃ asātaṃ dukkhaṃ vedayitaṃ cetosamphassajā asātā dukkhā vedanā – idaṃ vuccati ‘‘domanassaṃ’’. | 152. Ưu đó ra sao? Sự không vui tâm, sự khổ tâm, sự hưởng cảnh không vui vẻ thành khổ sanh từ ý xúc, thái độ hưởng cảnh không vui vẻ thành khổ tâm sanh từ ý xúc, dù như thế nào đây gọi là ưu. |
| 198. Tattha katamo upāyāso? Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṃ upāyāsitattaṃ – ayaṃ vuccati ‘‘upāyāso’’. | 153. Ai đó ra sao? Sự thương thảm, cách thương thảm, trạng thái thương tiếc, cách thương tiếc của người gặp thân tộc điêu tàn, tài sản điêu tàn, tật bệnh điêu tàn, giới điêu tàn, tri kiến điêu tàn, dù gặp trong cách nào hay bị một nhân khổ nào như thế, đây gọi là ai. |
| 199. Tattha katamo appiyehi sampayogo dukkho? Idha yassa te honti aniṭṭhā akantā amanāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, ye vā panassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukakāmā ayogakkhemakāmā; yā tehi saṅgati samāgamo samodhānaṃ missībhāvo – ayaṃ vuccati ‘‘appiyehi sampayogo dukkho’’. | 154. Oán tăng hội khổ đó ra sao? Sự đi chung, sự đến chung, sự ở chung, sự hội hiệp với trường hợp không ưa thích, không yêu chuộng, lối không vừa lòng của trong đời như là sắc, thinh, khí, vị, xúc hoặc gặp những người tính sẽ tàn hại, tính sẽ phá lợi, tính sẽ phá sự an vui, sự sẽ làm ra tai nạn từ nơi hội hợp với họ như thế, đây gọi là oán tăng hội khổ. |
| 200. Tattha katamo piyehi vippayogo dukkho? Idha yassa te honti iṭṭhā kantā manāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, ye vā panassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukakāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā; yā tehi asaṅgati asamāgamo asamodhānaṃ amissībhāvo – ayaṃ vuccati ‘‘piyehi vippayogo dukkho’’. | 155. Ái biệt ly khổ đó ra sao? Sự không đặng đi chung, không đặng đến chung, không đặng ở chung, không đặng hội hợp nhau với cảnh thích, thương yêu, vừa lòng của đời như là sắc, thinh, khí, vị, xúc hoặc đối với người yêu chuộng từ nơi sự tiến hóa, yêu chuộng với sự lợi ích, yêu chuộng với sự an vui, yêu chuộng với sự kính mến, mà ta bị xa lìa họ như là cha, mẹ, anh, chị, em, bậu bạn, quan hầu cận và bà con thân thích như thế, đây gọi là ái biệt ly khổ. |
| 201. Tattha katamaṃ yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ? Jātidhammānaṃ sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘‘aho vata, mayaṃ na jātidhammā assāma; na ca, vata, no jāti āgaccheyyā’’ti! Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ. Idampi ‘‘yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ’’. | 156. Cầu bất đắc khổ đó ra sao? - Lẽ thường sự sanh ra đối với tất cả chúng sanh còn sanh nữa dĩ nhiên không thể khỏi, dù chúng ta muốn khỏi sanh nữa cũng chẳng đặng hay muốn sự sanh đừng đến cho chúng ta điều nầy không bao giờ đặng, như thế đây gọi là cầu bất đắc khổ. |
| Jarādhammānaṃ sattānaṃ…pe… byādhidhammānaṃ sattānaṃ…pe… maraṇadhammānaṃ sattānaṃ…pe… sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṃ sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘‘aho vata, mayaṃ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma; na ca, vata, no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā āgaccheyyu’’nti! Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ. Idampi ‘‘yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ’’. | Lẽ thường, sự già cả đối với chúng sanh ai cũng chẳng muốn… nên mong rằng, sự già cả, đau đớn… cho đến sự chết chóc của chúng sanh… hay sự sầu, sự khóc lóc, sự khổ, sự ưu khổ, sự ai, sự oán-tăng hội khổ, sự biệt ly khổ vẫn đến cho tất cả chúng sanh dù mong mỏi cho đừng có như thế, điều nầy không như ý nguyện. Như thế gọi là cầu bất đắc khổ. |
| 202. Tattha katame saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? Seyyathidaṃ – rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime vuccanti ‘‘saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā’’. | 157. Tóm tắt ngũ thủ uẩn đó ra sao? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, đây tóm tắt gọi là ngũ thủ uẩn thành khổ. |
| Idaṃ vuccati ‘‘dukkhaṃ ariyasaccaṃ’’. | Những chơn tướng nầy gọi là khổ thánh đế. |
| ↑ trở lên | |
|
Giáo nghĩa tứ diệu đế trong cái nhìn tổng quan thì bao phủ tất cả lời Phật dạy. Riêng trong Thắng Pháp thì tứ đế có pháp bản thể bao gồm tất cả pháp chân đế hữu vi và vô vi - một đề tài hàm tận đúng nghĩa. Mặc dù thể tài và tên gọi giống với Kinh Tạng nhưng tứ thánh đế ở đây cho thấy những ý nghĩa tế nhị khác. Quan niệm về khổ đau và hạnh phúc trong cái nhìn thường thức hoàn toàn không thể áp dụng ở đây khi nói về sự khổ và con đường thoát khổ. Chính điểm nầy cho chúng ta sự nhận thức rất đặc thù của Phật học nói chung và Thắng Pháp nói riêng. Tứ thánh đế (cattāri ariyasaccāni) hay tứ diệu đế. Danh từ ariyasacca gồm hai từ tố: ariya : cao thượng; bậc cao quý, bậc thánh; sacca : sự thật, chân lý. Ariyasacca dịch là thánh đế hay diệu đế, có nghĩa là chân lý chỉ có bậc thượng nhân mới thắng tri được, hay là chân lý khi liễu tri được sẽ trở thành bậc thánh, hoặc có nghĩa là chân lý do đức Phật khám phá và giảng dạy … Ở đây không có nghĩa là những chân lý cao thượng như một vài người dịch, bởi chân lý về sự khổ, chân lý về nhân sanh khổ … đâu có gì là cao thượng !!! Có 4 chân lý được đức Phật giác ngộ:
Trong bốn thánh đế, khổ đế cần phải biến tri (pariññeyyaṃ), tập đế cần phải đoạn trừ (pahātabbaṃ), diệt đế cần phải chứng ngộ (sacchikātabbaṃ), đạo đế cần phải tu tập (bhāvetabbaṃ). Bát chi đạo trong tâm thiện dục giới là pháp cần phải tu tập; do tu tập như vậy mới đắc chứng thiện siêu thế (tâm đạo); thiện siêu thế mới thành tựu quả siêu thế giải thoát. Bởi thế, đạo đế gồm bát chi đạo trong thiện dục giới và thiện siêu thế. Một vấn đề khác, nói rằng trong tứ đế có hai phạm trù nhân quả, (1) Tập đế là nhân khổ đế là quả, (2) Đạo đế là nhân, diệt đế là quả. Phạm trù thứ hai (2) không chấp nhận được. Tại sao? Vì níp bàn không là sở duyên, không phải do năng duyên trợ tạo, níp bàn là vô vi (asaṅkhata), là vô duyên (appaccaya). Níp bàn hay diệt đế chỉ là đích điểm mà sự tu tập bát chánh đạo là con đường dẫn tới đích điểm ấy thôi. Như con đường đi lên đỉnh núi, không có nghĩa con đường ấy là nhân, đỉnh núi là quả. Cần phải hiểu như vậy. Trích bài BÀI 56. TOÁT YẾU HÀM TẬN (Sabbasaṅgaha) của chuaphapluan.com. Ghi chú: Ngoại đế là 40 tâm siêu thế nhưng loại trừ 8 chi đạo trong 20 tâm Đạo. Trong lộ tâm đắc đạo 8 chi đạo trong những tâm chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc và tâm đạo có phận sự dẫn đến Níp-bàn nên thuộc Đạo đế. Còn 8 chi đạo của tâm Quả Siêu thế là tâm của vị đã đắc đạo nên không còn phận sự dẫn đến Níp Bàn nữa nên không được gọi là Đạo đế, mà gọi là Ngoại đế. ![]() Xem thêm mục hàm tận yếu hiệp. |