| Pāḷi | Tiếng Việt |
| A. Suttantabhājanīyaṃ | A. Phân tích theo Kinh |
| Dukkhasaccaṃ | Khổ thánh đế |
| Samudayasaccaṃ | Khổ tập thánh đế |
| Nirodhasaccaṃ | Khổ diệt thánh đế |
| Maggasaccaṃ | Thánh đế tiến hành nhân diệt khổ |
| B. Abhidhammabhājanīyaṃ | B. Phân tích theo Vi Diệu Pháp |
| Aṭṭhāṅgikavāra | Phần bát chi |
| Pañcaṅgikavāra | Phần ngũ chi đạo |
| Sabbasaṅgāhikavāra | Phần tất cả chi |
| Maggasaccaṃ | Thánh đế tiến hành nhân diệt khổ |
| 205. Tattha katamaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. | 162. Thánh đế tiến hành nhân diệt khổ ra sao? Chính là Thánh đạo có tám chi như là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. |
| Tattha katamā sammādiṭṭhi? Dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ – ayaṃ vuccati ‘‘sammādiṭṭhi’’. | 163. Trong bát chi đạo mà chánh kiến đó ra sao? Sự hiểu trong khổ tập, sự hiểu trong khổ diệt, sự hiểu trong tiến hành nhân diệt khổ, như thế gọi là chánh kiến. |
| Tattha katamo sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo – ayaṃ vuccati ‘‘sammāsaṅkappo’’. | 164. Chánh tư duy đó ra sao? Sự nghĩ ngợi trong cách ly dục, sự suy xét trong cách không sân độc, sự suy nghĩ trong cách không ép uổng, như thế gọi là chánh tư duy. |
| Tattha katamā sammāvācā? Musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī – ayaṃ vuccati ‘‘sammāvācā’’. | 165. Chánh ngữ đó ra sao? Sự ngăn trừ cách vọng ngôn, sự ngăn trừ cách lưỡng thiệt, sự ngăn trừ cách ác khẩu, sự ngăn trừ cách ỷ ngữ, thế gọi là chánh ngữ. |
| Tattha katamo sammākammanto? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī – ayaṃ vuccati ‘‘sammākammanto’’. | 166. Chánh nghiệp đó ra sao? Sự ngăn trừ sát sanh, sự ngăn trừ trộm cướp, sự ngăn trừ tà dâm, thế gọi là chánh nghiệp. |
| Tattha katamo sammāājīvo? Idha ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvikaṃ kappeti – ayaṃ vuccati ‘‘sammāājīvo’’. | 167. Chánh mạng đó ra sao? Bực Thánh tăng Phật Giáo đã dứt trừ tà nghiệp nuôi mạng bằng cách chơn chánh, thế gọi là chánh mạng. |
| Tattha katamo sammāvāyāmo? Idha bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti, vāyamati, vīriyaṃ ārabhati, cittaṃ paggaṇhāti, padahati. Uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti, vāyamati, vīriyaṃ ārabhati, cittaṃ paggaṇhāti, padahati. Anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti, vāyamati, vīriyaṃ ārabhati, cittaṃ paggaṇhāti, padahati. Uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti, vāyamati, vīriyaṃ ārabhati, cittaṃ paggaṇhāti, padahati. Ayaṃ vuccati ‘‘sammāvāyāmo’’. | 168. Chánh tinh tấn đó ra sao? Tỷ-kheo trong Phật Giáo làm cho sự vừa thích hợp phát sanh, siêng năng mở mối tinh tấn bảo vệ tâm vững vàng hầu ngăn ngừa tội ác chưa sanh không cho sanh… hầu chừa bỏ pháp tội ác đã từng sanh… hầu tạo pháp thiện chưa sanh đặng sanh làm cho sanh vừa thích hợp, siêng năng khởi điểm tinh tấn chăm nom tâm tánh đặng vững vàng hầu yên trụ không tán thất sự chú tâm, sự rộng rãi, sự tiến hóa, sự đầy đủ nơi pháp thiện đã từng sanh, thế gọi là chánh tinh tấn. |
| Tattha katamā sammāsati? Idha bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Vedanāsu…pe… citte…pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Ayaṃ vuccati ‘‘sammāsati’’. | 169. Chánh niệm đó ra sao? Tỷ-kheo trong Phật Giáo bực hội hợp với sự tinh tấn, có lương tri, có tu niệm, hằng tỏ ngộ thấy thân trong thân, hạn chế tham ác và sân trong đời đặng rồi là bực hiệp với sự tinh tấn, có chánh niệm lương tri, thường quán thấy thọ trong thọ… bực hiệp với sự tinh tấn, có chánh niệm lương tri, thường quán thấy tâm trong tâm… bực hiệp với sự tinh tấn có chánh niệm lương tri, thường quán thấy pháp trong pháp, hạn chế tham ác và sân theo trong đời, đã bớt đặng; như thế gọi là chánh niệm. |
| Tattha katamo sammāsamādhi? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṃ vūpasamā, ajjhattaṃ sampasādanaṃ, cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā, upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘‘upekkhako satimā sukhavihārī’’ti, tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati ‘‘sammāsamādhi’’. | 170. Chánh định đó ra sao? Tỷ-kheo trong Phật Giáo nầy thanh tịnh ly dục, vắng lặng, đã lìa những pháp bất thiện, chứng sơ thiền có tầm, tứ, hỷ, lạc sanh từ nội tịch tịnh, đến chứng nhị thiền làm cho tâm càng thanh tịnh do vắng lặng tầm, tứ thành pháp phát khởi độc đoán bên trong tột không tầm, tứ, chỉ còn hỷ, lạc, sanh từ định do khai trừ hỷ được nữa mới thành bực có tâm xả, có chánh niệm lương tri và hưởng lạc bằng danh thân; chứng tam thiền là thiền của chư Thánh khen ngợi kẻ đắc như thế nầy là bực có tâm xả vẫn đặng chánh niệm an vui. Đắc chứng tứ thiền vô khổ lạc do trừ lạc khổ, vì trước kia hỷ ưu đã dứt tuyệt, có chánh niệm đầy đủ vẫn do xả, đây gọi là chánh định. |
| Idaṃ vuccati ‘‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ’’. | Như thế gọi là Thánh đế tiến hành nhân diệt khổ. |
| ↑ trở lên | |
|
Giáo nghĩa tứ diệu đế trong cái nhìn tổng quan thì bao phủ tất cả lời Phật dạy. Riêng trong Thắng Pháp thì tứ đế có pháp bản thể bao gồm tất cả pháp chân đế hữu vi và vô vi - một đề tài hàm tận đúng nghĩa. Mặc dù thể tài và tên gọi giống với Kinh Tạng nhưng tứ thánh đế ở đây cho thấy những ý nghĩa tế nhị khác. Quan niệm về khổ đau và hạnh phúc trong cái nhìn thường thức hoàn toàn không thể áp dụng ở đây khi nói về sự khổ và con đường thoát khổ. Chính điểm nầy cho chúng ta sự nhận thức rất đặc thù của Phật học nói chung và Thắng Pháp nói riêng. Tứ thánh đế (cattāri ariyasaccāni) hay tứ diệu đế. Danh từ ariyasacca gồm hai từ tố: ariya : cao thượng; bậc cao quý, bậc thánh; sacca : sự thật, chân lý. Ariyasacca dịch là thánh đế hay diệu đế, có nghĩa là chân lý chỉ có bậc thượng nhân mới thắng tri được, hay là chân lý khi liễu tri được sẽ trở thành bậc thánh, hoặc có nghĩa là chân lý do đức Phật khám phá và giảng dạy … Ở đây không có nghĩa là những chân lý cao thượng như một vài người dịch, bởi chân lý về sự khổ, chân lý về nhân sanh khổ … đâu có gì là cao thượng !!! Có 4 chân lý được đức Phật giác ngộ:
Trong bốn thánh đế, khổ đế cần phải biến tri (pariññeyyaṃ), tập đế cần phải đoạn trừ (pahātabbaṃ), diệt đế cần phải chứng ngộ (sacchikātabbaṃ), đạo đế cần phải tu tập (bhāvetabbaṃ). Bát chi đạo trong tâm thiện dục giới là pháp cần phải tu tập; do tu tập như vậy mới đắc chứng thiện siêu thế (tâm đạo); thiện siêu thế mới thành tựu quả siêu thế giải thoát. Bởi thế, đạo đế gồm bát chi đạo trong thiện dục giới và thiện siêu thế. Một vấn đề khác, nói rằng trong tứ đế có hai phạm trù nhân quả, (1) Tập đế là nhân khổ đế là quả, (2) Đạo đế là nhân, diệt đế là quả. Phạm trù thứ hai (2) không chấp nhận được. Tại sao? Vì níp bàn không là sở duyên, không phải do năng duyên trợ tạo, níp bàn là vô vi (asaṅkhata), là vô duyên (appaccaya). Níp bàn hay diệt đế chỉ là đích điểm mà sự tu tập bát chánh đạo là con đường dẫn tới đích điểm ấy thôi. Như con đường đi lên đỉnh núi, không có nghĩa con đường ấy là nhân, đỉnh núi là quả. Cần phải hiểu như vậy. Trích bài BÀI 56. TOÁT YẾU HÀM TẬN (Sabbasaṅgaha) của chuaphapluan.com. Ghi chú: Ngoại đế là 40 tâm siêu thế nhưng loại trừ 8 chi đạo trong 20 tâm Đạo. Trong lộ tâm đắc đạo 8 chi đạo trong những tâm chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tộc và tâm đạo có phận sự dẫn đến Níp-bàn nên thuộc Đạo đế. Còn 8 chi đạo của tâm Quả Siêu thế là tâm của vị đã đắc đạo nên không còn phận sự dẫn đến Níp Bàn nữa nên không được gọi là Đạo đế, mà gọi là Ngoại đế. ![]() Xem thêm mục hàm tận yếu hiệp. |