A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de
  1. 62 Tà Kiến
  2. Diṭṭhikatthā
  3. Hữu Kiến & Phi Hữu Kiến
  4. Ngụy Biện Vô Tận
  5. Tà Kiến
  6. Thân kiến
  7. Thập tướng vô kiến
Ghi âm audio:
  1. Khoái Lạc Kiến
  2. Tùy Ngã Kiến
  3. Tà Kiến

Kiến
diṭṭhi

16 loại Kiến

Tà Kiến

Tà Kiến

Sáu Giáo trưởng Ngoại Đạo (xem thêm phần Ghi âm)

  1. Pùrana Kassapa - thuyết vô nghiệp (vô hành kiến)
    17. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: "Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo".
  2. Makkhali Gosàla - thuyết luân hồi tịnh hóa, theo lời kẻ khác (vô nhân kiến)
    20. Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con: "Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".
  3. Ajita Kesakambàli - thuyết đoạn diệt (vô hữu kiến)
    23. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đã nói với con: "Này Ðại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết. "
  4. Pakudha Kaccayana - trả lời một việc khác với một quan điểm khác
    26. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: "Này Ðại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi".
  5. Sanjaya Belathiputta - ngụy biện luận
    32. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với con: "Nếu anh hỏi: "Có một thế giới khác hay không?" Nếu tôi nghĩ: "Có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không có một thế giới khác phải không?" Nếu tôi nghĩ: "Không có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Không có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không có một thế giới khác phải không?" (... như trên... ) "Cũng có và cũng không có một thế giới khác?", "Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?", "Có loại hữu tình hóa sanh?", "Không có loại hữu tình hóa sanh?", "Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?" "Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?", "Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?", "Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Như Lai có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai không có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?". Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Tôi có thể trả lời : "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế."
  6. Nigantha Nàtaputta - chế ngự bởi bốn loại cấm giới.
    29. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: "Này Ðại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)".

    Kinh Sa-môn quả (Sàmannaphala sutta)

Tam Chuẩn Xác Tà Kiến (Niyatamicchàdiṭṭhi)

Đó là:
  1. Vô Hữu Kiến (Natthidiṭṭhi): Có quan điểm nhận thấy rằng “bất luận làm điều chi đi nữa, cũng chẳng có đón nhận quả báo nào cả.”
  2. Vô Nhân Kiến (Ahetukadiṭṭhi): Có quan điểm nhận thấy rằng “tất cả loài Hữu Tình đang hiện hành hiện hữu ấy, cũng chẳng có nương nhờ bởi do một tác nhân nào cả.”
  3. Vô Hành Kiến (Akiriyadiṭṭhi): Có quan điểm nhận thấy rằng “các hành động tạo tác của Chúng Hữu Tình ấy, cũng chẳng có thành tựu quả dị thục Phước – Tội nào cả.”

  1. Vô Hữu Kiến:

    Trong cả Tam Chuẩn Xác Tà Kiến đây, với người có quan điểm nhận thấy thuộc thể loại Vô Hữu Kiến ấy, ắt hẳn chỉ có loại Đoạn Kiến (Ucchedadiṭṭhi), tức là có sự nhận thấy rằng tất cả các loài Hữu Tình sau khi thân hoại mạnh chung thì sẽ đoạn diệt hết cả, tiêu mất hết, và không còn tồn tại sau khi chết (chẳng có tục sinh lại nữa). Có Chánh Tạng Pàli ở bài Kinh Sa Môn Quả (Samaññaphalasutta) thuộc Phẩm Giới Uẩn (Sìlakhandhavagga) đã có trình bầy đến quan kiến lầm lạc thuộc thể loại Vô Hữu Kiến nói rằng: “Natthi mahàràja dinnaṃ, natthi yitthaṃ, natthi hutaṃ, natthi sukata dukkhatànaṃ kammànaṃ phalaṃ vipàko, natthi ayaṃ loko, natthi paro loko, natthi màtà, natthi pità, natthi sattà opapàtikà, natthi loke samaṇabrahmaṇà sammaggatà sammàpaṭi pannà, ye imañ ca lokaṃ parañca lokaṃ abhiññà sacchikatvà pavedenti.”- Dịch nghĩa là: “Nầy Đại Vương, không có xả thí, không có tế lễ hy sinh, không có tế tự, không có Quả Dị Thục của các Nghiệp Thiện – Ác, không có đời nầy, không có đời sau, không có Mẹ, không có Cha, không có loài Hữu Tình Hóa Sanh, ở trong đời không có các vị Sa Môn, các vị Bà La Môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời nầy đời khác và truyền dạy lại.”

    Giải thích rằng:

    1. Natthi dinnaṃ: Nhận thấy rằng việc đã tạo ra Thiện Phúc thì thường chẳng có được đón nhận quả báo nào cả.
    2. Natthi yiṭṭhaṃ: Nhận thấy rằng những việc cúng dường, cũng chẳng có được đón nhận quả báo nào cả.
    3. Natthi sukata dukkaṭànaṃ kammanaṃ phalaṃ vipàko: Nhận thấy rằng việc tạo tác Thiện – Ác Nghiệp cũng chẳng có được đón nhận quả dị thục nào cả, kể cả trực tiếp và gián tiếp.
    4. Natthi ayaṃ loko: Nhận thấy rằng không có đời nầy, tức là người đang hiện hữu ở ngay trong hiện tại nầy mà lại gọi với nhau là không có đời nầy, vì lẽ chẳng có việc tục sinh nối tiếp thêm nữa.
    5. Natthi paro loko: Nhận thấy rằng không có đời sau, tức là không có kiếp sống sẽ được nương sinh từ ở đời sống đang hiện bầy ở trong hiện tại nầy, bởi vì một khi đã tử vong rồi thì cũng chẳng có việc tục sinh lại nữa.
    6. Natthi màtà: Nhận thấy rằng việc tạo tác Thiện - Ác đối với người Mẹ, thường là chẳng có đón nhận quả báo nào cả.
    7. Natthi pità: Nhận thấy rằng việc tạo tác Thiện – Ác đối với người Cha, thường là chẳng có đón nhận quả báo nào cả.
    8. Natthi sattà opapàtikà: Nhận thấy rằng chẳng có loài Hữu Tình khởi sanh chỉ có một lần mà to lớn lên liền (Hóa Sanh), tức là không có loài Hữu Tình Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Chư Thiên, Phạm Thiên.
    9. Natthi loke samaṇabrahmaṇà sammaggatà sammàpaṭipannà, ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ abhiññà sacchikatvà pavedenti: Nhận thấy rằng thường là không có được bất luận vị Sa Môn, vị Bà La Môn nào, với chính tự mình có được sự liễu tri đời nầy, đời vị lai, và rồi có khả năng chỉ dạy và dắt dẫn cho được liễu tri. Cũng chẳng có được vị Sa Môn, vị Bà La Môn đến với nhau trong tình thân ái đoàn kết, cũng chẳng có được cùng chánh kiến và chánh hạnh. (Có nghĩa là chẳng có người nào tu tập An Chỉ, Minh Sát, đắc chứng Thiền Định, Thắng Trí, Đạo và Quả; mà sự thật những hành động tạo tác ấy, chỉ là để mưu sinh mà thôi.)

    Người đã có Vô Hữu Kiến, là người đã có quan điểm phản bác về Quả Báo thì cũng chẳng khác chi phản bác luôn cả những mãnh lực của Tư Tác Ý Thiện và Tư Tác Ý Bất Thiện, mà đó chính là những tác nhân của các quả báo.

    Vì thế, Ngài Đại Chú Giải Sư Buddhaghosa mới trình bầy để ở trong phần Chú Giải của bài Kinh Sa Môn Quả nói rằng “Vipàkaṃ paṭibàhantenàpi kammaṃ paṭibàhitaṃ hotaṃ”- Dịch nghĩa là: “Một khi đã có sự phản bác về quả báo thì cũng được gọi là phản bác luôn cả về Nghiệp Lực, mà đã coi như đó là tác nhân làm trổ sinh ra quả báo vậy.”

    Các hàng Phật Tử, khi đã thẩm sát đến sự kiến thị sai trật (Tà Kiến) như đã vừa được đề cập đến đây, thì sẽ có thể khởi sinh lên sự bi mẫn buồn lòng và chợt nghĩ đến mà cảm thấy đáng lo sợ, đáng thương xót đến với hạng người đã có sự thấy sai chấp lầm như thế. Thế nhưng, người đã có loại kiến chấp nầy lại có số lượng rất nhiều, chẳng những chỉ có riêng biệt ở trong các đạo giáo khác, mà chính ngay cả ở trong đạo Phật Giáo cũng có số lượng là không ít. Vì thế, quả báo ắt hẳn phải được thụ lãnh đã chẳng lựa chọn người, bất luận sẽ là người thuộc đạo giáo nào đi nữa, nếu đã có loại Tà Kiến nầy rồi, thì một khi đã tử vong ắt hẳn phải thụ lãnh quả tội cùng với việc đọa vào trong Cõi Địa Ngục vậy. Nương vào loại Tà Kiến nầy, hẳn nhiên đã là điều đáng tiếc vô cùng, quả là điều bất xứng để được gọi là người Phật Tử. Điều nầy đã chỉ vạch cho thấy nhóm người nầy rằng chỉ là loại “danh xưng Phật Tử”, còn ở trong bản tâm thì chẳng có sự sùng tín, niềm tin nào vào những huấn từ của bậc Chánh Đẳng Giác, chẳng hạn như bất tín rằng có Cõi Địa Ngục, Cõi Thiên Giới, v.v. Như thế mới nói đoan chắc được rằng hạng người ấy, cho dù sẽ là hạng cư sĩ tại gia hoặc sẽ là hạng xuất gia đi nữa, một khi đã mạng vong thì ắt hẳn phải bị tục sinh vào ở trong Cõi Địa Ngục. Khi đã là như vậy, đạo lộ sẽ hóa giải cho thoát khỏi sự nhận thấy ở phần Tà Kiến đang hiện hữu, là người ấy ắt hẳn phải tu tập cho phát sanh Trí Tuệ (Paññà) ở trong lãnh vực Phật Giáo, qua việc trau giồi Thực Hành Minh Sát (Paṭipattivipassanà) luôn cho đến thành tựu Quả vị bậc Thánh. Hoặc học hỏi nghiên cứu Tạng Vô Tỷ Pháp cho liễu tri ở trong Thực Tính (Sabhàva) hiện hành theo Chân Như Thực Tính, luôn cả ở trong hai lãnh vực, vật chất và tinh thần. Hoặc tự bản thân phải là người có Tánh Đức Tin (Sàraddhàcarita), phải có niềm tin vào huấn từ của Mẹ, Cha, Tôn Sư, hoặc Giáo Thọ. Có sự hiểu biết ở trong lãnh vực Phật Giáo mới sẽ làm cho thoát khỏi Tà Kiến nầy được. Nếu chẳng là như thế, thì cho dù người ấy sẽ có được sự hiểu biết ở trong học thuật của thế gian, cho chí đến đã thành bậc Giáo Sư đi nữa, cũng sẽ không thoát khỏi loại Tà Kiến ấy được, vì lẽ sự hiểu biết ở trong học thuật của thế gian ấy hiện hành là để cho việc mưu sinh và việc xã hội mà thôi.

  2. Vô Nhân Kiến:

    Người có quan điểm thuộc thể loại Vô Nhân Kiến ấy, là có sự nhận thấy rằng tất cả các loài Hữu Tình đang được đón nhận sự khổ đau hoặc an lạc đi nữa, bởi chẳng có nương vào cái chi làm tác nhân cho khởi sinh lên cả, và tất cả đều tự hiện hành hết cả.

    Có Chánh Tạng Pàli của bài Kinh Sa Môn Quả (Samaññaphalasutta) thuộc Phẩm Giới Uẩn (Sìlakhandhavagga) đã có trình bầy đến quan điểm lầm lạc thuộc thể loại Vô Nhân Kiến nói rằng: “Natthi mahàràja hetu natthi paccayo sattànaṃ saṃkilesàya, ahetu apaccayà sattà saṃkilissanti natthi hetu natthi paccayo sattànaṃ visuddhiyà, ahetù apaccayà sattà visujjhanti”- Dịch nghĩa là: “Nầy Đại Vương, vô hữu nhân, vô hữu duyên, các loài Hữu Tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài Hữu Tình bị nhiễm ô. Vô hữu nhân, vô hữu duyên, các loài Hữu Tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài Hữu Tình được thanh tịnh.”

    Giải thích rằng: “Xuất Sinh Nhân (Janakahetu) là tác nhân cho xuất sinh, và Bảo Hộ Nhân (Upattham bhakahetu) là tác nhân giúp đỡ bảo hộ cho tất cả loài Hữu Tình chẳng có sự buồn phiền ưu não, Khổ Thân - Khổ Tâm. Tất cả loài Hữu Tình đang sầu ưu não và khổ đau ấy, là bởi do chẳng có bất luận Xuất Sinh Nhân và Bảo Hộ Nhân nào cả. Xuất Sinh Nhân là tác nhân cho xuất sinh, và Bảo Hộ Nhân là tác nhân giúp đỡ bảo hộ cho tất cả loài Hữu Tình có được sự thanh tịnh, thoát khỏi sự Khổ về Thân và Tâm. Tất cả loài Hữu Tình đang có sự thanh tịnh, thoát khỏi sự Khổ Thân – Khổ Tâm ấy, là cũng do chẳng có liên quan với bất luận Xuất Sinh Nhân và Bảo Hộ Nhân nào cả.”

    Sự nhận thấy ở phần Vô Nhân Kiến đây, là có quan điểm phản bác về Tác Nhân, là chẳng có tin rằng hành động tạo tác Thiện – Ác của tất cả loài Hữu Tình mà đã có tạo ra với nhau trong từng mỗi ngày đây, chính là tác nhân đã kiến tạo cho khởi sinh Quả Báo. Vì thế, việc phản bác về Tác Nhân đây, thì cũng chẳng khác chi phản bác luôn cả những Quả Báo, nghĩa là tất cả loài Hữu Tình đang phải thụ lãnh sự an vui, sự khổ đau trong từng mỗi ngày đây, cũng chẳng cho đó là Quả Báo bởi do hành động tạo tác Thiện hoặc Ác của mình làm Tác Nhân.

    Do vậy, Ngài Đại Chú Giải Sư Buddhaghosa mới trình bầy để ở trong phần Chú Giải của bài Kinh Sa Môn Quả nói rằng “Natthi hetùti vadanto ubhayaṃ paṭibàhati”- Dịch nghĩa là: “Người đã nói rằng hoặc đã nhận thấy rằng sự Khổ – Lạc của tất cả loài Hữu Tình ấy chẳng có dính líu liên hệ bởi do tác nhân. Điều nầy chẳng khác là việc phản bác cả về Tác Nhân và luôn cả Quả Báo.”

  3. Vô Hành Kiến:

    Người có quan điểm thuộc thể loại Vô Hành Kiến ấy, là có sự nhận thấy rằng tất cả các loài Hữu Tình có Tác Thiện – Tác Ác đi nữa, thì cũng chẳng có Tội – và cũng chẳng có Phúc. Làm cũng chỉ gọi là có làm ngần ấy thôi.

    Có Chánh Tạng Pàli của bài Kinh Sa Môn Quả (Samaññaphala sutta) thuộc Phẩm Giới Uẩn (Sìlakhandhavagga) đã có trình bầy đến quan điểm lầm lạc thuộc thể loại Vô Hành Kiến nói rằng: “Karoto kho mahàràja kàrayato, chindato chedàpayato, pacato pàcàpayato, socayato socàpayato, kilamato kilamàpayato, phandato phandàpayato, pàṇamatipàtàpayato, adinnaṃ àdiyato, sandhiṃ chindato, nillopaṃ harato, ekàgàrikaṃ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradàraṃ gacchato, musà bhaṇato, karoto na karìyati pàpaṃ”- Dịch nghĩa là: “Nầy Đại Vương, tự làm hay khiến người làm, tự chém giết hay khiến người chém giết, tự đốt nấu hay khiến người đốt nấu, tự gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, tự gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi; sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà người mà đi vào cướp bóc, tư thông vợ người, vọng ngữ, những hành động như vậy chẳng có tội ác chi cả.”

    Giải thích rằng: “Người có quan điểm lầm lạc thuộc thể loại Vô Hành Kiến, nhận thấy rằng hành động tạo tác Thiện – Ác của tất cả loài Hữu Tình, cho dù sẽ là “Tự Chế Thủ Công” hoặc “Mệnh Lệnh” sai bảo cho người khác thực hiện đi nữa, thì cũng chẳng được gọi là có Tội – Phúc. Việc hành hung bằng cách tùng xẻo các bộ phận của người khác, cho dù sẽ là “Tự Chế Thủ Công” hoặc “Mệnh Lệnh” sai bảo cho người khác cắt chặt đi nữa, thì cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả. Việc trừng phạt người khác bằng cách phạt vạ bắt nộp tiền, hoặc bằng cách đánh đòn làm cho họ phải bị thụ lãnh sự thống khổ, cho dù sẽ là “Tự Chế Thủ Công” hoặc “Mệnh Lệnh” sai bảo cho người khác thực hiện đi nữa, thì cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả. Việc trộm lấy tài sản của cải vật chất của người khác, đã làm cho họ phải bị thụ lãnh sầu bi ưu não khổ tâm buồn lòng, cho dù sẽ là “Tự Chế Thủ Công” hoặc “Mệnh Lệnh” sai bảo cho người khác thực hiện đi nữa, thì cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả. Việc tự trừng phạt bản thân cho phải khổ sở, có việc nhịn cơm hoặc chịu mắc vào lao tù; hoặc hướng dẫn cho người khác tín cẩn mình để cho thực hiện việc tự trừng phạt bản thân cho phải khổ sở cũng tương tự như mình, thì cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả. Tự bản thân có sự bồn chồn lo lắng, buồn phiền khổ tâm, hoặc làm cho người khác phải bị bồn chồn lo lắng, buồn phiền khổ tâm, thì cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả. Tự bản thân với việc sát hại loài Hữu Tình, hoặc sai bảo cho người khác sát hại, thì cũng chẳng gọi là sát hại loài Hữu Tình, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Tự bản thân với việc đục tường, khoét vách trộm đạo, hoặc sai bảo cho người khác đục tường, khoét vách trộm đạo, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Tự bản thân với việc tranh cướp tài sản, hoặc sai bảo cho người khác tranh cướp, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Tự bản thân với việc xâm phạm vào nhà ở của người khác rồi tranh cướp tài sản, hoặc sai bảo cho người khác xâm phạm, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Tự bản thân với việc chực chờ rình rập tranh cướp tài sản của người khác theo đạo lộ, hoặc sai bảo người khác chực chờ rình rập tranh cướp tài sản của họ, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Việc tính dục tà hạnh với vợ của người khác, cũng chẳng là Tội Ác. Việc nói vọng ngữ, cũng chẳng có Tội Ác chi cả. Tạo tác các việc bất thiện, như đã vừa đề cập đến tại đây, cho dù sẽ là “Tự Chế Thủ Công” hoặc“Mệnh Lệnh” sai bảo cho người khác thực hiện đi nữa, với những thể loại nầy cũng chẳng có gọi là Tác Hành Ác chi cả.”

    Sự nhận thấy ở phần Vô Hành Kiến đây, là có quan điểm phản bác về Nghiệp Lực, đó chính là chủ tác nhân. Vì thế, việc phản bác về Nghiệp Lực đây, thì cũng chẳng khác chi phản bác luôn cả Quả Báo của Nghiệp Lực đã được hoàn thành ở trong xác thân. Do vậy, Ngài Đại Chú Giải Sư Buddhaghosa mới trình bầy để ở trong phần Chú Giải của bài Kinh Sa Môn Quả nói rằng: “Kammaṃ paṭibàhantenàpi vipàko paṭibàhito hoti”- Dịch nghĩa là: “Ngay khi phản bác về hành động tạo tác Tội – Phúc đã là chủ tác nhân, thì cũng chẳng khác chi phản bác luôn cả Quả Báo của hành động tạo tác Tội – Phúc ấy vậy.”

Trình Bầy Sự Thành Chuẩn Xác Tà Kiến Của Cả Tam Kiến

Trong cả Tam Kiến ấy, hiện hữu với ba vị Giáo Trưởng (Gaṇàcariya) thuộc Dị Giáo Phái, đó là Giáo Trưởng Ajita Kesakambali có quan điểm thuộc thể loại Vô Hữu Kiến; Giáo Trưởng Makkhali Gosàla có quan điểm thuộc thể loại Vô Nhân Kiến; và Giáo Trưởng Puraṇa Kassapa có quan điểm thuộc thể loại Vô Hành Kiến. Sự thấy sai chấp lầm (Tà Kiến) của cả ba vị Giáo Trưởng nầy gọi là Chuẩn Xác Tà Kiến, là những loại Tà Kiến có thực tính nhất định phải trổ sanh quả báo ở trong Địa Ngục Địa Giới theo tuần tự từ ở nơi Tâm Tử (Cuticitta) mà chẳng có khoảnh khắc xen kẽ, vì lẽ các loại Tà Kiến của cả ba vị Giáo Trưởng nầy đã có sự chấp thủ dính mắc rất nhiều. Ngay đến Đức Phật Ngài đã có lập ý, bằng với rất nhiều phương thức, đã thi dĩ khốc hình (cho thụ lãnh sự khổ đau vô cùng khốc liệt) đặng cho buông bỏ những loại Tà Kiến ấy đi, thế nhưng kết quả lại chẳng thành. Đối với các nhóm môn đồ của cả ba vị Giáo Trưởng nầy, lúc thưở ban đầu thì năng lực của các loại Tà Kiến ấy đã khởi sinh hãy còn non yếu, do vậy vẫn chưa hoàn thành thể loại Chuẩn Xác Tà Kiến. Thế rồi thời gian tiếp đến, một khi đã có việc thường luôn đọc đi đọc lại với cả việc thẩm sát ở trong nội dung lời giảng dạy của vị Thầy Giáo Trưởng, tương tự với người tiến hóa Nghiệp Xứ (Kammaṭṭhàna), và đã có sự mãn ý ở trong các lời giảng dạy ấy. Chính ngay trong sát na thẩm sát và có sự mãn ý ấy, thì Tâm Đổng Lực Tương Ưng Kiến (Diṭṭhigatasampayutta javana) khởi sanh cùng với số lượng vô số đếm không kể xiết, cho đến khi những Tâm ấy đạt thành Tà Định (Micchàsamàdhi) khởi sanh. Trong Lộ Trình Tâm Đổng Lực Tương Ưng Kiến (Diṭṭhigatasampayuttajavanavithì) cuối cùng, thì có việc quyết định dứt khoát ở trong các nội dung ấy, rằng đề mục bình khán đã khởi sinh, tương tự với Lộ Trình Tâm của vị hành giả đã tiến tu Minh Sát đang khi vào đến Lộ Trình Đắc Đạo (Maggavithì), và như thế, chính cái Tâm Đổng Lực thứ bẩy ở trong Lộ Trình Tâm cuối cùng nầy, đã được gọi là Chuẩn Xác Tà Kiến (Niyata micchàdiṭṭhi), tức là loại Tà Kiến nhất định có khả năng trổ sanh quả báo cho phải đi tục sinh ở trong Địa Ngục Địa Giới sau khi đã tử vong, vì lẽ ngay chính những loại Tà Kiến nầy, cho dù chí đến Đức Phật đã có lập ý bi mẫn đi nữa, cũng không có thể giải cứu được.

Trình Bầy Tam Chuẩn Xác Tà Kiến

(Niyatamicchàdiṭṭhi 3) còn được gọi là Tà Thực Tính Cố Nhiên (Micchattaniyata)

Sự hiện hành của cả hai, Tà Kiến (Diṭṭhi) với Trí Tuệ (Paññà) đây, có thực tính hiện hành đối nghịch, và bất hòa hợp với nhau. Ví tựa bóng tối với ánh sáng, hoặc ví tựa hai người đã giận nhau và đã bỏ chạy đi lánh mặt với mỗi người đi một hướng, và như thế mỗi người cứ cách xa dần. Ở trong lãnh vực Trí Tuệ (Paññà), một khi đã khởi sự tiến tu cho đến tỏ ngộ Tứ Thánh Đế (Ariyasacca) bởi do đã được tiếp nhận sự hiệp trợ từ ở nơi Tín (Saddha), Tấn (Viriya), Niệm (Sati), và Định (Samàdhi), thì chẳng có bất luận một yếu tố nào sẽ đến để mà phá hại Trí Tuệ của người ấy được. Và người ấy ắt hẳn đã có sự sùng tín đặc biệt ở trong Ân Đức Tam Bảo, có niềm tin ở trong Nghiệp Lực và Quả Báo của Nghiệp Lực, và tin rằng tử vong rồi sẽ phải tái tục lại nữa. Giả như người ấy vẫn còn Ái Dục (Taṇhà) có nghĩa là Trí Tuệ (Paññà) của người ấy đã đạt đến sự thành Chánh Thực Tính Cố Nhiên (Sammattaniyàma – Niềm An Lạc Cố Nhiên), là Trí Tuệ có thực tính ở phần tịnh hảo và nhất định trổ sanh quả báo. Và như thế, người ấy mới được gọi là bậc Thất Lai (Sotàpanna – Dự Lưu, Tu Đà Hườn), là bậc đã thoát khỏi và không còn phải tục sinh ở trong Thống Khổ Địa Giới.

Cũng trong cùng một phương thức, đạo lộ Tà Kiến ấy một khi đã có sự phát triển bởi do đã được tiếp nhận sự hiệp trợ từ ở nơi Tà Tư Duy (Micchàsaṅkappa), Tà Tinh Tấn (Micchàvàyàma), và Tà Định (Micchàsamàdhi), thì chí đến bậc Chánh Đẳng Giác đã có lập ý muốn giải cứu đi nữa, cũng không thể được, bởi do đã chấp thủ dính mắc ở trong sự thấy sai chấp lầm (Tà Kiến) của mình. Lúc bấy giờ, Kiến Chấp của người ấy đã đạt đến sự thành Tà Thực Tính Cố Nhiên (Micchattaniyàma), là loại Tà Kiến có thực tính ở phần vô tịnh hảo và nhất định trổ sanh quả báo. Và như thế, người có Tà Kiến loại Tà Thực Tính Cố Nhiên ấy, ắt hẳn chẳng có hy vọng nào để sẽ được chứng đắc Đạo Quả, và cho thành tựu Quả vị của bậc Thánh; trái lại sẽ còn phải bị thụ lãnh khổ đau ở trong Vô Gián Đại Địa Ngục. Khi đã tử vong lìa khỏi kiếp sống nầy rồi, thì nhất định còn phải trải qua với thời gian rất lâu dài cho đến một vạn Trung Kiếp (Antarakappa), vì lẽ loại Tà Kiến đã đạt đến sự thành Tà Thực Tính Cố Nhiên nầy có tác nghiệt nghiêm trọng hơn cả tác nghiệt của Chia Rẽ Tăng Đoàn Nghiệp Lực (Saṅghabhedakakamma).

Vì thế, Ngài Đại Chú Giải Sư Buddhaghosa mới lập ý trình bầy để ở trong bộ Chú Giải Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Atthakathà) nói rằng: “Kappavinàse mahàjane brahmaloke nibbattepi niyatamicchàdiṭṭhiko tattha anibbattitvàpiṭṭhi cakkavàḷe nibbattati, kiṃ pana piṭṭhicakkavàḷaṃ na jhàyatìti ? Jhàyati, tasmiṃ jhàyamànepi esa àkàse ekasmiṃ okàse paccatiyevàti vadanti ?”- Dịch nghĩa là: “Ngài Chú Giải Sư là bậc tiên thiên thông tuệ cả ở trong Tam Tạng Kinh Điển và Chú Giải, đã nói rằng “Một khi thế giới bị hoại diệt, cho dù tất cả những đại chúng (Mahàjana) sẽ được tục sinh ở trong Thế Giới Phạm Thiên đi nữa, còn với người đã có Chuẩn Xác Tà Kiến ấy thì chẳng có cơ hội để sẽ được tục sinh ở trong Thế Giới Phạm Thiên ấy, ắt hẳn phải đi tục sinh ở trong Vô Gián Đại Địa Ngục hiện hữu ở trong Tiên Thiên Bộ Châu (Cakkavàla) cuối cùng, đó chính là Bộ Châu sẽ bị hoại diệt một trăm ngàn Koṭi (một trăm ngàn x mười triệu = một ngàn tỷ Kiếp).”

Có lời vấn hỏi rằng:“Tiên Thiên Bộ Châu hoại diệt cuối cùng ấy, chẳng phải là bị Lửa hoại diệt hay sao ?” Giải đáp rằng:“Là bị Lửa hoại diệt tương tự như nhau”. Thế nhưng, khi Tiên Thiên Bộ Châu cuối cùng nầy đã bị Lửa hoại diệt, thì người đã có Chuẩn Xác Tà Kiến ấy, vẫn sẽ còn phải thụ lãnh khổ đau ở trong một khoản nào đó ở bên trên bầu khí quyển.

Ngài Chú Giải Sư nầy đã trình bầy để cho được biết rằng: “Trong tất cả những tác nghiệt của các Bất Thiện Nghiệp Lực, thì tác nghiệt dính líu với Chuẩn Xác Tà Kiến là loại tác nghiệt nghiêm trọng cùng tột.” Đúng như Đức Thế Tôn Ngài đã có lập ý khải thuyết để ở trong Chánh Tạng Tăng Chi Bộ Kinh nói rằng: “Paramàni bhikkhave vajjàni”- Dịch nghĩa là: “Nầy tất cả Chư Tỳ Khưu, loại Tà Kiến ở phần Chuẩn Xác Tà Kiến đây, có tác nghiệt cực đại tột cùng.” Người đã chấp thủ vào Chuẩn Xác Tà Kiến thì có được cơ hội thành tựu Quả vị của bậc Thánh hay không ?

Người đã chấp thủ vào Chuẩn Xác Tà Kiến đây, và nếu như chẳng hủy bỏ lìa khỏi sự thấy sai chấp lầm của mình, thì chẳng bao giờ sẽ thành tựu được Quả vị bậc Thánh. Ngay cả khi đã tử vong lìa khỏi cuộc đời nầy rồi, thì cũng chẳng có hy vọng để sẽ có được tục sinh trở lại làm Người. Thế nhưng, giả như người ấy đã hủy bỏ lìa khỏi sự thấy sai chấp lầm, thế rồi đã quay trở lại tiến tu Minh Sát thì ắt hẳn có được hy vọng để sẽ thành tựu Quả vị của bậc Thánh. Và khi đã thân hoại mạng diệt, lìa khỏi cuộc đời nầy rồi, thì có hy vọng sẽ được tục sinh làm Người hoặc Chư Thiên tùy thuận theo tác hành của mình.

Đúng như Đức Phật Ngài đã lập ý khải thuyết để ở trong Chánh Tạng Pàli Phát Thú (Paṭṭhàna) nói rằng: “Ariyà micchattaniyate pahìme kilese paccavekkhanti, pubbe samudàciṇṇe kilese jànanti, micchattaniyate khandhe aniccato vipassanti”- Dịch nghĩa là: “Tất cả bậc Thánh Nhân đã từng có Chuẩn Xác Tà Kiến nầy, thường luôn thẩm sát vào phiền não- là Chuẩn Xác Tà Kiến - mà mình đã được phóng khí đi rồi, thường luôn thẩm thị vào phiền não - là Chuẩn Xác Tà Kiến - mà đã từng sanh ở trong bản tánh của mình, thường luôn thẩm sát về Uẩn Chuẩn Xác Tà Kiến theo sự thành Pháp Vô Thường.”

Tà Kiến là Tác Nhân cho Thập Ác Hạnh khởi sanh

Lẽ thường với người đã có Tà Kiến ấy rồi, thường là hạng người Vô Tàm và Vô Quý đối với việc tạo tác ra bao Ác Hạnh. Thế nhưng, có một vài loại Ác Hạnh mà con người sẽ chẳng dám tạo tác, cũng chỉ vì e ngại về quyền lực Pháp Luật của Nhà Nước ngần ấy thôi. Cho dù có đến thế đi nữa, cũng vẫn chưa khẳng định luôn là như vậy. Giá như có bất luận đạo lộ nào lẩn lút né tránh được thì cũng vẫn dám làm như thường. Đối với những Ác Hạnh giả như chẳng có vi phạm với Pháp Luật, thì cũng coi như sẽ nỗ lực làm cho hết cỡ mà chẳng ngại ngùng sợ hãi chi cả. Với lý do như vậy, việc hành xử của người nầy mới hiện hành ở trong đạo lộ Ác Hạnh, với phần nhiều là Thân Ác Hạnh cũng có, Ngữ Ác Hạnh cũng có và Ý Ác Hạnh cũng có. Người đã có Tà Kiến ấy rồi, giá như sẽ có việc kết hợp với Thiện Nghiệp Lực, thì đó sẽ là thường hay dính líu với việc tầm cầu danh thơm tiếng tốt, với việc xã hội, và liên đới với lợi ích cá nhân. Chẳng hạn như giúp đỡ xây dựng đường lộ, kiến tạo trường học, giúp đỡ trong việc làm giảm bớt khổ đau theo phương thức đã sắp bầy. Dù sao đi nữa, Thiện Nghiệp Lực của nhóm người nầy chẳng phải thuộc thể loại Thiện Nghiệp Lực thanh cao, mà đó chỉ là loại Thiện Nghiệp Lực thông thường, vì lẽ chẳng được hiện hành với mãnh lực từ ở nơi Nghiệp Chủ Trí Lực (Kammassakatañàṇa), mà lại hiện hành với mãnh lực của Ái (Tañhà), Mạn (Màna), Kiến (Diṭṭhi), vì thế việc sẽ được tục sinh trở lại làm Người của nhóm người nầy mới coi như đã là thất sách vậy.

Sưu tập về Tà Kiến

Định nghĩa:

Tà Kiến (micchādiṭṭhi) là tâm sở có trạng thái khiến tâm hiểu sai sự thật thay vì là sự không hiểu như ở tâm sở Si. Kinh giải thích rằng tâm sở Si khiến ta không thấy những khía cạnh Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Từ đó tâm sở Tham mới có cơ hội làm công việc ưa thích hay nắm chặt và tâm sở Tà Kiến thì ghép các khái niệm Thường, Đoạn vào đó. Đây là lý do tại sao tất cả các Tà Kiến đôi khi được gọi chung là Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi) hay Ngã Kiến (attadiṭṭhi), vốn chỉ được chấm dứt hẳn khi một người chứng Sơ quả (sotāpattimagga).

Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi)

Trọng Nghiệp (garukakamma): Gồm những nghiệp thiện ác có khả năng mãnh liệt không thể ngăn chận được bằng bất cứ một nghiệp nào khác và chắc chắn sẽ cho Quả Dị Thục ngay đời kế tiếp. Trọng nghiệp bất thiện gồm Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi) và 5 tội đại nghịch còn gọi là Nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma) là giết cha (pitughāta), giết mẹ (matughāta), giết A-lahán (arahattaghāta), chia rẽ tăng chúng (sanghabhedana) và làm thân Phật chảy máu (lohituppāda).

Tà Kiến trong 4 Thủ

Sắc do Thủ (upādinnarūpa) ở đây chỉ cho 18 Sắc Nghiệp vốn hình thành từ Tham Ái (taṇhā) và Tà Kiến (diṭṭhi) đời trước. 10 Sắc còn lại gọi là Sắc Phi do Thủ (anupādinnarūpa). Tham Ái ở giai đoạn mãnh liệt và có Tà Kiến đi cùng thì được gọi là Thủ. Nói Ái duyên Thủ (taṇhāpaccayā upādānaṃ) là ý này.

  • Kiến Thủ (diṭṭhupādāna): là sự đam mê chấp trước những Tà Kiến nằm ngoài Giới Cấm Thủ và Ngã Chấp Thủ. Như tin Thượng đế tối cao, thiên đường vĩnh cửu hay thờ phụng ma quỷ, thần vật. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Giới Cấm Thủ (sīlabbatupādāna) là sự chấp chặt trong các tín điều không nhắm đến cứu cánh Níp-bàn và cách hành trì nằm ngoài Bát Chánh Đạo. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Ngã Chấp Thủ (attavādupādāna) là sự chấp chặt trong ý niệm “Tôi, của tôi” do tác động của Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi). Thủ này là sự chấp chặt quan điểm Ngã (ahankāra) và Ngã Sở (mamaṅkāra) như có tôi, của tôi, có hắn, của họ. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).

    Tà Kiến trong 4 Lậu

  • Kiến Lậu (diṭṭhāsava) là một trong tứ lậu. Là tâm sở Tà Kiến (diṭṭhi) trong 4 tâm tham đi chung Tà Kiến (lobhamūladiṭṭhigatasampayuttacitta) trong trường hợp Thường Kiến và Đoạn Kiến, kể rộng có 62 Tà Kiến (xem lại kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh). Cốt lõi của Tứ Lậu chỉ có 3 thứ phiền não là Tham, Tà Kiến và Si. Chính 3 pháp này đã tạo nên vòng tròn Duyên Khởi.

    Tà Kiến trong 4 Kết

  • Giới Cấm Thủ (sīlabbataparāmāsa): Là sự chấp chặt trong các tín điều không nhắm đến cứu cánh Níp-bàn và cách hành trì nằm ngoài Bát Chánh Đạo. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).

  • Cực Đoan Kiến (idaṃsaccābhinivesa): Là thái độ ôm ấp những điều sai lầm hoặc khiếm khuyết rồi phủ nhận những điều mình chưa thấy, chưa biết. Chi pháp cũng là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).

    Tà Kiến trong 7 Tiềm miên

  • Kiến tiềm miên (diṭṭhānusaya): Là tất cả những suy nghĩ sai lầm về các pháp, gom chung là Thường Kiến và Đoạn Kiến. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Hoài Nghi tiềm miên (vicikicchānusaya): Là tất cả những Hoài Nghi liên hệ Tà Kiến. Chi pháp là tâm sở Hoài Nghi (vicikicchā) trong tâm si Hoài Nghi (mohamūlavicikicchāsampayuttacitta).

    Nhu Tánh, Nhu Tâm (kāyamudutā, cittamudutā): Là trạng thái linh hoạt, ôn nhu, không cứng cỏi (akakkhaḷatā), không ngoan cố (akathiṇatā) trong tâm thiện, giúp tâm khỏi bị Tà Kiến và Kiêu Mạn. Hai tâm sở này hỗ trợ cho tâm sở Tín và Vô Sân.


    Xem thêm Tà kiến - Sư Giác Nguyên giảng.
    1. 62 Tà Kiến
    2. Diṭṭhikatthā
    3. Hữu Kiến & Phi Hữu Kiến
    4. Ngụy Biện Vô Tận
    5. Tà Kiến
    6. Thân kiến
    7. Thập tướng vô kiến

  • A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

    © www.tudieu.de