A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

6 Nhân


Tất cả tâm và tâm sở có thể kể gọn vào 3 nhóm với 6 căn tính:

  1. Các pháp bất thiện (akusalahetu) có 3 nhân gốc (bất thiện căn):

    1. Tham (lobha),
    2. Sân (dosa),
    3. Si (moha).

  2. Các pháp thiện (kusalahetu) thì có 3 nhân gốc (thiện căn):

    1. Vô Tham (alobha),
    2. Vô Sân (adosa),
    3. Vô Si (amoha).

  3. Các pháp Vô Ký (avyākatahetu)
    Pháp Vô Ký thì xét trên tên gọi cũng có 3 nhân gốc là Vô Tham, Vô Sân, Vô Si nhưng 3 nhân này ở đây không mang tính thiện, chúng được gọi vậy chỉ vì không phải là ác. Tâm Vô Ký gồm tâm Dị thục và tâm Tố (còn gọi là Duy Tác). Hai loại tâm này không có khả năng tạo quả như các tâm thiện và bất thiện.

Si (moha)

Là sự mê muội, bất thông đối với bản chất của đối tượng. Nói một cách chuyên môn thì si ở đây là sự u mê không hiểu được bốn khía cạnh Vô Thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô Ngã (anatta) và Bất Mỹ (asubha). Do không thấy được tốc độ sanh diệt chớp nhoáng của Danh Sắc (nāma, rūpa) nên ta mới có những quan niệm Thường (nicca), Lạc (sukha), Ngã (atta) và Đẹp (subha). Nói bằng ngôn ngữ hiện đại, tâm sở Si giống như người đạo diễn điện ảnh: Ông ta khiến người khác vui, buồn, thương, ghét ngay trên những thứ hoàn toàn giả tạo.

Tâm sở Si là thành tố chủ đạo cho các tâm bất thiện, cùng với Vô Tàm và Vô Úy làm thành ba tâm sở Bất Thiện Biến Hành (akusalasādhāraṇa) xuất hiện trong các tâm bất thiện. Trong trường hợp đặc biệt, tâm sở Si được định nghĩa là sự Vô Minh (avijjā) trong Tứ Diệu Đế (cattārāriyasaccani).

Tham (lobha)

Là trạng thái ham thích trong cảnh dục trần (kāma) hay cảnh thiền (jhāna). Nó là sự khao khát đối với trần cảnh. Đức Phật dạy như biển có thêm bao nhiêu nước cũng không đầy, như lửa có thêm nhiên liệu cũng không đủ, tâm tham cũng giống hệt vậy. Hạnh phúc tuyệt đối không thể có được khi ta cứ còn khao khát một cái gì đó. Ngoài khía cạnh ham thích, Tham còn là sự nắm níu đối tượng.

Trong kinh có cho một ví dụ về tâm tham là hình ảnh một con khỉ thò tay lấy mồi trong một cái bẫy đổ đầy nhựa cây. Càng cố rút tay thì con khỉ càng bị chất keo đó níu giữ lại.

Cùng với Tà Kiến (micchādiṭṭhi) và Ngã Mạn (māna), tâm Tham được xem là một trong ba nhân tố luân hồi hoặc cũng gọi là ba pháp ngăn trở giải thoát (papañcadhamma).

Sân (dosa)

Là trạng thái bất mãn hay khó chịu trong tâm. Tâm sở Sân là một khía cạnh khác của tâm sở Tham: Một bên thì là sự thích thú ôm ấp món mình thích và một bên là sự bất mãn, chối bỏ thứ mình ghét. Theo trong A-tỳ-đàm thì việc tấn công một người hay việc bị người tấn công đều là cơ hội của tâm sân, nhưng ít ai chịu để ý rằng Sân tâm bên phía chủ động thường không mạnh bằng phía bị động.

Vô Tham (alobha)

Là trạng thái buông bỏ hay chối từ các khía cạnh khả ái của cảnh trên nền tảng của thiện pháp. Nên phân biệt rằng không tham trong cảnh khác với không có cảnh để tham. Một bên là do hàm dưỡng và một bên là do hoàn cảnh bất tiện. Vô Tham là một trong ba thiện căn, nguồn cội của các sự lành (thiện pháp, nhân quả lành).

Vô Sân (adosa)

Là trạng thái tha thứ và buông bỏ đối với cảnh nghịch ý, thay vì tâm sở Vô Tham là sự buông bỏ hay tháo cởi trước cảnh toại ý. Khi được tu tập một cách có ý thức thì tâm sở này chính là lòng Từ (mettā). Tâm sở Vô Sân cũng là một trong ba thiện căn.

Vô Si (Trí Tuệ - paññācetasika)

Là khả năng hiểu biết thấu suốt (không phải cái biết trực nhận của Thức hay cái biết kinh nghiệm của Tưởng). Đối với hành giả tuệ quán hay thánh nhân thì đây là cái biết tự thân (không qua việc nghe hay đọc của người khác) về Tam Tướng hay Duyên Khởi của Danh Sắc, Ngũ uẩn. Chức năng của Trí Tuệ (paññā) là loại bỏ si mê (moha), cũng gọi là Vô Minh (avijjā).



Có 18 tâm không có các tâm sở nhân đi cùng nên gọi là vô nhân.
Có 2 tâm chỉ có 1 nhân (nhân Si).
Có 22 tâm có 2 nhân (8 tâm tham, 2 tâm sân và 12 tâm tịnh hảo dục giới ly trí).
Có 79 tâm có 3 nhân (vô tham. vô sân, trí tuệ).




A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de