Tám Thắng Xứ
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Tám Thắng xứ.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng. "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ nhất.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ hai.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ ba.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tư.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh... như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh... như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta thấy, ta biết", đó là thắng xứ thứ năm.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng... như bông Kanikara màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng... như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ sáu.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc màu đỏ, ánh sáng đỏ... như bông Bandhujivaka màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ... như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ bảy.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng... như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng... như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tám.
Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya - 77. Ðại kinh Sakuludàyi (Mahàsakuludàyin sutta)
Những pháp này gọi là Thắng xứ vì chúng vượt lên trên các pháp đối nghịch và các đối tượng, nhờ áp dụng phương pháp đối trị thích hợp và nhờ khởi lên tri kiến.
- Quán nội sắc thấy ngoại sắc có hạn lượng, và do nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
- Quán nội sắc thấy ngoại sắc vô hạn và nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy ngoại sắc có hạn lượng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy ngoại sắc vô hạn lượng và nhiếp thắng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu xanh và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu vàng và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu đỏ và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
- Quán vô sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu trắng và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
Theo kinh sớ, thiền giả làm công việc chuẩn bị với một hình tướng nội tại - ví dụ màu xanh của con mắt cho biến xứ màu xanh, da cho biến xứ màu vàng, máu cho biến xứ màu đỏ, răng cho biến xứ trắng - nhưng khi định tướng xuất hiện thì ở ngoài. Sự "vượt qua các hình tướng" là sự đắc định đồng lúc với tướng khởi lên. Nghĩ rằng tôi biết, tôi thấy là một chướng ngại khởi lên sau khi vị ấy xuất định chứng chứ không phải khi đắc định. Thắng xứ thứ 2 chỉ khác thắng xứ đầu do sự trải rộng tướng từ hữu hạn thành vô hạn.
Thắng xứ thứ 2 và thứ 4 bao hàm công việc chuẩn bị được làm trên một tướng bên ngoài và sự khởi lên tướng ở bên ngoài. Thắng xứ thứ 5 cho đến thứ 8 khác với thứ 3 và thứ 4 về sự thuần tịnh thù thắng và ánh sáng của những màu sắc.
Tâm Vô Sắc Giới
Với người hữu duyên trong thiền định thì ngay sau khi chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới có thể dễ dàng sanh lòng chán ghét đối với đời sống hệ lụy vật chất. Không còn bị phiền phức bởi năm Triền cái nữa, tức không còn những khổ tâm thông thường của người đời, hành giả lúc này tự nhiên có một nhu cầu tâm linh vi tế hơn. Vị ấy thấy chán sợ với những cọ xát của tấm thân sinh lý với những thứ vật chất phiền toái nặng nề của cơ thể như nóng lạnh, đói khát, thương tích, bệnh tật. Để vượt khỏi sự tù túng này sau khi xuất khỏi Ngũ thiền Sắc giới, nên khi đề mục xưa giờ của hành giả vẫn tiếp tục hiển hiện trong hình thức Quang Tướng nhưng vị này lại tác ý đến một đề mục khác đó là khoảng hư không bao la vô tận nằm ngoài mọi thứ vật chất.
Cùng lúc với sự nhàm chán đối với Quang Tướng của đề mục cũ, thì Quang Tướng ấy cũng lập tức biến mất. Trong tâm thức vị này lúc đó chỉ còn lại một đối tượng duy nhất là khoảng không bao la. Ngay lúc này có một thứ thiền tâm cao hơn Ngũ thiền Sắc giới và chỉ biết có một đối tượng là khoảng không vô tận, đó chính là tâm Hư Không Vô Biên, tầng thiền Vô sắc đầu tiên.
Để chứng đắc tầng thiền Vô sắc thứ nhất, hành giả tập chú vào khái niệm: Ananto ākāso (Hư Không là vô tận).
Nếu đủ duyên lành, đương sự lại nhàm chán cả tầng thiền Vô sắc đầu tiên để thấy rằng đến cả khoảng không bao la kia cũng là cái gì đó hữu hạn bó buộc bởi nó còn bị tâm biết đến. Thế là đương sự lại tác ý đến sự vô tận vô hạn của tâm thức để chứng được tầng thiền Vô sắc thứ hai là Thức Vô Biên. Ở tầng thiền thứ hai thì là Anantaṃ viññānaṃ (thức là vô tận).
Người hữu duyên lại đi xa hơn, xét rằng hư không là hữu hạn vì còn bị thức biết và thức cũng không phải là vô tận vì chỉ biết được cái hư không hữu hạn kia nên hành giả lại lần nữa sanh tâm nhàm chán cả hai thứ bằng cách tập chú vào khái niệm thứ ba: Natthi kiñcanaṃ (không còn gì nữa cả). Trong tâm tưởng vị ấy lúc này cũng đã chối bỏ vừa Hư Không vừa Thức và đạt tới trình độ Vô Sở Hữu Xứ. Một người có huệ căn, như bồ tát Tất Đạt chẳng hạn, không thể xem tầng thiền Vô sắc thứ ba này là cứu cánh sau cùng khi thấy rằng cái biết trong thiền Vô Sở Hữu Xứ dầu gì cũng chỉ là bước nhảy đầu tiên ra khỏi hai đối tượng hữu hạn kia. Như một người không thể an tâm khi nhận ra mình vẫn còn ở ngay phía trước nơi chốn đang rất muốn rời bỏ. Đương sự phải đi xa hơn cho cảnh cũ khuất hẳn tầm mắt.
Với sự nhàm chán này tâm thức của hành giả ngày một vi tế hơn, vị ấy xét thấy một nội tâm tách khỏi hoàn toàn ba khái niệm Vô sắc trước mới thật sự là an tĩnh và thù thắng. Đề mục của hành giả lúc này chỉ là trạng thái tâm vừa có được: Nói rằng không cũng sai mà bảo rằng có cũng không đúng (Phi Tưởng Phi Phi Tưởng). Vị ấy an trú trong khái niệm này: Etaṃ santaṃ, etaṃ paṇītaṃ (đây mới là tịch tịnh, đây mới là thù thắng).
Bốn tầng thiền Vô sắc được kể là ngũ thiền vì y cứ trên ngũ thiền mà có. Có thể nói đây là tầng ngũ thiền nhàm chán Sắc pháp, như tầng Vô Tưởng cũng là ngũ thiền nhưng dành cho người nhàm chán Danh pháp. Sự nhàm chán trong các tầng thiền này chưa phải là rốt ráo và thiền Chỉ tịnh cũng không phải là giải pháp cao nhất nên sự không tâm ở cõi Vô Tưởng hay sự vô hình ở cõi Vô sắc cũng chỉ là những cứu cánh tạm thời. Sự nhàm chán rốt ráo đối với Danh Sắc phải y cứ trên Tam Tướng và giải pháp xuất ly phải là con đường Tứ Niệm Xứ.
Điều cần ghi nhận thêm là năm tầng thiền Sắc giới khác biệt nhau ở số lượng thiền chi. Bốn tầng thiền Vô sắc chỉ khác biệt nhau ở đối tượng ghi nhận, còn thiền chi thì ở tầng nào cũng có hai là Định và Xả. Các tâm Vô sắc giới nói chung cũng được chia thành ba phần Thiện, Quả và Tố với những chi tiết giống hệt như ở tầng thiền Sắc giới.
Triết học A Tỳ Đàm
TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 77MAHÀSAKULUDÀYI
I. TOÁT YẾU
Mahàsakuludàyi Sutta - The Greater discourse to Sakuludàyi.
The Buddha teaches a group of wanderers the reasons why his disciples venerate him and look to him for guidance.
Bài giảng dài cho Sakuludayi.
Phật dạy cho một nhóm du sĩ những lý do vì sao các đệ tử Ngài tôn trọng Ngài và sống dưới sự hướng dẫn của Ngài.
II. TÓM TẮT
Phật đi đến tu viện các du sĩ do Sakuladayi cầm đầu. Sakuludayi chào đón Phật và bạch Phật, trong khi các đạo sư nổi tiếng của ngoại đạo như Makkhali Gosala, Ni kiền tử… được quần chúng tôn sùng, họ lại không được các đệ tử của họ tôn trọng, sống nương tựa. Mỗi khi thuyết pháp, họ bị các đệ tử tranh lời, kích bác, mạ lị. Ngược lại, sa môn Gotama được quần chúng tôn sùng, lại được các đệ tử cung kính tôn trọng. Mỗi khi Ngài thuyết pháp giữa hội chúng hàng trăm người, thì không có một tiếng ho giữa các đệ tử. Đại chúng sống nhiệt tình kỳ vọng nơi Phật, ngay cả những đệ tử hoàn tục vì cãi lộn với bạn đồng tu, vẫn tán thán bậc Đạo sư, tán thán Pháp và Tăng, chỉ tự trách mình thiếu phước không thể sống phạm hạnh cho đến trọn đời. Như vậy sa môn Gotama được đệ tử cung kính sống nương tựa.
Và theo Ưu đà di sở dĩ như vậy là nhờ Ngài có 5 đức và tán thán năm đức:
1. Ăn ít;
2. Biết đủ với bất cứ loại y phục nào;
3. Biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào;
4. Biết đủ với bất cứ loại sàng tọa nào;
5. Ngài sống viễn ly.
Phật dạy không phải do 5 điều ấy mà các đệ tử cung kính Ngài, vì có nhiều đệ tử của Ngài còn khổ hạnh hơn Ngài gấp bội, xuất sắc hơn Ngài về 5 phương diện ấy. Nhưng chính do 5 pháp sau đây khiến họ cung kính nương tựa vào Như Lai. Đó là:
1. Ngài đã thành tựu Giới uẩn tối thượng, các đệ tử thán phục Ngài về tăng thượng giới;
2. Tri kiến vi diệu nhờ đó Như Lai thuyết pháp với thắng trí, có nhân duyên, có thần thông lực.
3. Ngài thành tựu trí tuệ tối thượng, biết trước các đường lối lý luận [1] trong tương lai nên các đệ tử của Ngài không bao giờ gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến;
4. Ngài khéo trả lời cho đệ tử khi họ đắm chìm trong đau khổ. Ngài làm cho tâm họ thỏa mãn với pháp tứ diệu đế;
5. Ngài thuyết giảng con đường tu hành gồm có: 4 niệm xứ [2], 4 chánh cần, 4 thần túc, 5 căn, 5 lực, bảy giác chi, thánh đạo tám ngành, nhờ an trú các pháp này mà đệ tử chứng ngộ thắng trí [3].
Ngài dạy 8 giải thoát [4], 8 thắng xứ [5], quán nội sắc thấy ngoại sắc có hạn lượng, và do nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết, đây là thắng xứ thứ nhất [6]. Quán nội sắc thấy ngoại sắc vô hạn và nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết, là thắng xứ thứ hai. Không quán nội sắc, thấy ngoại sắc có hạn lượng là thắng xứ thứ ba [7]; thấy ngoại sắc vô hạn lượng và nhiếp thắng, là thắng xứ thứ tư. Bốn thắng xứ kế tiếp là do quán vô sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu xanh, vàng, đỏ, trắng và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết.
Ngài giảng dạy cách tu tập 10 biến xứ [8], 4 thiền. Ly dục ly bất thiện pháp, vị tỳ kheo chứng trú thiền thứ nhất có tầm có tứ, với hỉ lạc do ly dục sinh [9]... cho đến thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Ngài giảng dạy đệ tử tuệ tri [10] thân này là sắc pháp do duyên sinh; trong thân ấy thức nương tựa và bị trói buộc như sợi dây xâu qua những viên ngọc.
Ngài thuyết giảng về con đường tu hành để hóa hiện một thân ý sinh, để đắc các thắng trí như biến hình, thiên nhĩ, thiên nhãn, túc mạng, tha tâm, và lậu tận.
Đây là những pháp làm cho đệ tử cung kính tôn trọng và sống nương tựa Ngài.
III. CHÚ GIẢI
1. Nanamoli dịch "hậu quả của một lời xác nhận." Dường như có nghĩa rằng Phật hiểu rõ tất cả những ẩn ý của giáo lý Ngài cũng như của học thuyết khác. Câu này cũng có thể ngụ ý rằng trong những kinh như Phạm Võng, Phật đã đưa ra một lời phê bình có thể áp dụng cho bất cứ lý thuyết nào có thể khởi lên trong tương lai, về các tư tưởng triết học tôn giáo.
2. Được giải thích đầy đủ trong kinh số 10. Bảy nhóm thiện pháp đầu tiên là 37 bồ đề phần pháp.
3. Luận giải thích là sự đắc quả A la hán. Đây có lẽ là ý nghĩa duy nhất của danh từ ba-la-mật khi nó xuất hiện trong 4 Nikayà. Trong văn học Thượng tọa bộ về sau, khởi đầu với Buddhaghosa, danh từ này bắt đầu có ý nghĩa những đức tính toàn hảo mà một bồ tát phải hoàn tất trải qua nhiều đời kiếp để thành Phật. Trong ý nghĩa ấy nó tương đương với danh từ ba-la-mật của văn học đại thừa, mặc dù con số những đức tính kể ra có phần khác nhau.
4. Luận giải thích giải thoát ở đây có nghĩa sự giải phóng hoàn toàn (nhưng tạm thời) của tâm thức khỏi những pháp đối lập và sự giải phóng hoàn toàn nhưng tạm thời của nó do thích thú với đối tượng. Sự giải thoát đầu là đắc Tứ Thiền có sự dụng một biến xứ xuất phát từ một vật có màu sắc trên cơ thể của mình; thứ hai là sự đắc các thiền do sử dụng một biến xứ từ một đối tượng bên ngoài; thứ ba có thể hiểu là sự đắc thiền nhờ một biến xứ thuần tịnh, có màu sắc rất đẹp, hoặc nhờ 4 phạm trú. Những giải thoát còn lại là những định chứng vô sắc và định diệt tận.
5. Theo Kinh sớ, những pháp này gọi là Thắng xứ vì chúng vượt lên trên các pháp đối nghịch và các đối tượng, nhờ áp dụng phương pháp đối trị thích hợp và nhờ khởi lên tri kiến.
6. Theo kinh sớ, thiền giả làm công việc chuẩn bị với một hình tướng nội tại - ví dụ màu xanh của con mắt cho biến xứ màu xanh, da cho biến xứ màu vàng, máu cho biến xứ màu đỏ, răng cho biến xứ trắng - nhưng khi định tướng xuất hiện thì ở ngoài. Sự "vượt qua các hình tướng" là sự đắc định đồng lúc với tướng khởi lên. Nghĩ rằng tôi biết, tôi thấy là một chướng ngại khởi lên sau khi vị ấy xuất định chứng chứ không phải khi đắc định. Thắng xứ thứ 2 chỉ khác thắng xứ đầu do sự trải rộng tướng từ hữu hạn thành vô hạn.
7. Kinh sớ: thắng xứ thứ 2 và thứ 4 bao hàm công việc chuẩn bị được làm trên một tướng bên ngoài và sự khởi lên tướng ở bên ngoài. Thắng xứ thứ 5 cho đến thứ 8 khác với thứ 3 và thứ 4 về sự thuần tịnh thù thắng và ánh sáng của những màu sắc.
8. Biến xứ là một đối tượng thiền quán phát xuất từ một vật làm bằng tứ đại dùng làm cơ sở để đắc "tướng" ở bên trong. Ví dụ một cái đĩa làm bằng đất sét có thể dùng làm đối tượng để thực hành pháp tu biến xứ đất, một bát nước dùng để tu tập biến xứ nước. Các biến xứ được giải thích chi tiết trong Thanh tịnh đạo 4 và 5. Tuy nhiên biến xứ hư không ở đấy được giới hạn vào không gian hữu hạn, và biến xứ thức được thay bằng biến xứ ánh sáng.
9. Những ví dụ về thiền cũng xuất hiện trong kinh 39, như các thí dụ về 3 loại trí sau cùng.
10. Các đoạn mô tả 8 thắng trí theo kinh Sa Môn Quả, là những kết quả thù thắng của hạnh sa môn.
IV. PHÁP SỐ
2 giải thoát, 3 lậu hoặc, 4 đại, 4 thiền, 4 niệm xứ, 4 chánh cần, 4 thần túc. Năm căn, 5 lực, 5 pháp do đó các đệ tử tôn trọng Phật. Năm pháp do đó ngoại đạo tán thán Phật: ăn ít, biết đủ về hành, mặc, ở, sống viễn ly. 6 thần thông. 7 giác chi. Tám giải thoát, tám thắng xứ, 8 thánh đạo. 10 biến xứ, 37 pháp trợ đạo.
Trung Bộ - Kinh 77 (www.chuatulam.net)
|