A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

← 52 Tâm Sở

Tham ← Tà kiến → Mạn



Tà kiến (diṭṭhi)

Tà kiến (diṭṭhi). Diṭṭhi thuộc tánh bất thiện nên hiểu là micchādiṭṭhi tức là tà kiến. Tà kiến là thấy sai lầm, quan điểm không đúng chân lý. Tâm sở tà kiến có tướng trạng là xu hướng phi lý (ayoniso abhinivesalakkhaṇā), có nhiệm vụ là cố chấp (parāmāsarasā), có biểu hiện chấp sai lạc (micchābhinivesapaccupaṭṭhānā), nhân gần là không muốn gặp bậc thánh …v.v… (ariyānaṃ adassanakāmatādipadaṭṭhānā). Tâm sở tà kiến chỉ có mặt trong 4 tâm tham tương ưng tà kiến.

(trích Triết Học A Tỳ Đàm)

Tà Kiến (micchādiṭṭhi): Là tâm sở có trạng thái khiến tâm hiểu sai sự thật thay vì là sự không hiểu như ở tâm sở Si. Kinh giải thích rằng tâm sở Si khiến ta không thấy những khía cạnh Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Từ đó tâm sở Tham mới có cơ hội làm công việc ưa thích hay nắm chặt và tâm sở Tà Kiến thì ghép các khái niệm Thường, Đoạn vào đó. Đây là lý do tại sao tất cả các Tà Kiến đôi khi được gọi chung là Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi) hay Ngã Kiến (attadiṭṭhi), vốn chỉ được chấm dứt hẳn khi một người chứng Sơ quả (sotāpattimagga).

(trích Vô Tỷ Pháp Tập Yếu - TL Tịnh Sự - tb.2019)

Tà Kiến (micchādiṭṭhi): (bắt nguồn từ căn dis)

‘Diṭṭhi’ được dịch là ‘kiến, mê tín, quan điểm, v.v…’. Sammā diṭṭhi nghĩa là chánh kiến. Ở đây, diṭṭhi là một tâm sở bất thiện (akusala cetasika), cho nên ‘diṭṭhi’ được dùng với ý nghĩa là ‘tà kiến’. Tà kiến là sự nhận định hay cố chấp theo pháp sai không đúng với chơn lý bản thể thật, tức là micchaṭṭādiṭṭhi đã kể trong phần tâm tham trước rồi, nay chỉ thêm ý nghĩa.

Có Pāḷi và cách Chú giải như vầy: Micchā passatīti = diṭṭhi: Nhận thấy sai với chơn pháp gọi là tà kiến.

Si (Moha) đã được giải thích phía trên là che mù ý và làm mù pháp nhãn không cho thấy thực tính của pháp. Si làm chúng sanh thấy chư pháp là thường (nicca), lạc (sukha), ngã (atta) và tịnh (subha). Bởi vì tà kiến này, tham (lobha) bám dai dẳng hay dính mắc vào ‘ta hay người’ và tà kiến nhận định sai cho ‘ta và người’ là thật sự hiện hữu.

Tà kiến căn bản và phổ biến nhất là thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) hay ngã kiến (atta-diṭṭhi).

Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) tin rằng sự phối hợp của tâm và thân là ‘tôi’, ‘bạn’, ‘anh ấy’, ‘cô ấy’, ‘đàn ông’, ‘đàn bà’, ‘người’, v.v… .

Ngã kiến (atta-diṭṭhi) tin có sự hiện hữu của một ‘ngã hay linh hồn’ hoặc ‘bản ngã’ hay ‘thực thể’ trong thân.

Xuất phát từ thân kiến hay ngã kiến này cũng như từ sự không biết của si làm nảy sinh hàng ngàn nhận định sai lầm (tà kiến).

Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) là một trong mười pháp triền (quấn chặt) hiện hữu. Nó chỉ được loại trừ khi đạt đến Thất lai đạo (Sotāpatti-magga).

Katamā tasmiṃ samaye micchādiṭṭhi hoti? Yā tasmiṃ samaye diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ1 diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho patiṭṭhāho2 abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyesagāho, 3 ayaṃ tasmiṃ samaye micchādiṭṭhi hoti.
Tà kiến trong khi có ra sao? Kiến thức tức là thiên kiến, hoang vu kiến, ký khu kiến, thù nghịch kiến, biến hóa kiến, kiến thức như triền, chấp trước nghịch kiến, kiến hoặc, khinh thị, lộ đồ sai1, tà đạo, sự sai căn nguyên, tà giáo, chấp ngược có trong khi nào, đây gọi là tà kiến có trong khi ấy.

Bốn ý nghĩa (aṭṭha) của tâm sở tà kiến:

- Trạng thái là chấp cứng những cách không đáng chấp (ayoniso abhinivesalakkhaṇā).
- Phận sự là suy xét sai với sự thật (pārāmāsaraso).
- Thành tựu là chấp cứng theo sự nhận sai (micchābhinivesapaccupaṭṭhānā).
- Nhân cận là chấp cứng rằng chỉ sự nhận thấy của ta là đúng (daḷhaggahapaccupaṭṭhānā) hay là không chịu gặp bậc hiền trí, nhất là Đức Phật v.v… (sappurisavimukkatāpaṭṭhānā).

Tài liệu về Tà Kiến

Tham (lobha) cùng với hai pháp khác trong bọn, là tà kiến (diṭṭhi) và ngã mạn (māna) có nhiệm vụ kéo dài vòng đời hay vòng sinh tử mà thường được gọi là saṃsāra (vòng luân hồi). Trên thực tế, tham (lobha), tà kiến (diṭṭhi), ngã mạn (māna) được gọi chung là pháp chướng ngại (papañca dhamma).
Ba tâm sở ‘tham, tà kiến và ngã mạn’ gom chung lại gọi là tham-phần là bọn tâm sở tham, chỉ hợp trong vòng tâm tham.

Tà Kiến

Thường kiến (sassatadiṭṭhi chấp hữu) là 3 cái tin sai:
  1. tôi có một linh hồn còn hoài
  2. có một cõi thiên đàng vĩnh hằng
  3. có một đấng thượng đế hay tạo hóa

Đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi chấp vô) tức Tà kiến cố định (niyatadiṭthi) gồm có 3:
  1. Vô hành kiến (akiriyadiṭthi) cho rằng không có thiện ác thích thì làm không thích thì thôi chứ không tin chuyện báo ứng.
  2. Vô nhân kiến (ahetudiṭthi) là cho rằng mọi sự ở đời này là ngẫu nhiên mà có chứ không có nhân duyên, tác động của bất cứ một điều kiện nào. Tự nhiên nó có vậy thôi.
  3. Vô hữu kiến (natthikadiṭthi) có nghĩa là phủ nhận triệt để rốt ráo hoàn toàn tuyệt đối. Phủ nhận tất cả những gì mà mình không hiểu được, không thấy được, không chứng minh được, thì tất cả những thứ đó theo mình là không có.

Thân kiến (sakkayadiṭṭhi) gồm 20 do nhận sai 5 uẩn qua 4 cách:
  1. nhận thấy sắc (thọ, tưởng, hành, thức) uẩn là ta.
  2. nhận thấy ta có sắc (thọ, tưởng, hành, thức) uẩn.
  3. nhận thấy sắc (thọ, tưởng, hành, thức) uẩn ở trong ta.
  4. nhận thấy ta có trong sắc (thọ, tưởng, hành, thức) uẩn.


Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi)

Trọng Nghiệp (garukakamma): Gồm những nghiệp thiện ác có khả năng mãnh liệt không thể ngăn chận được bằng bất cứ một nghiệp nào khác và chắc chắn sẽ cho Quả Dị Thục ngay đời kế tiếp. Trọng nghiệp bất thiện gồm Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi) và 5 tội đại nghịch còn gọi là Nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma) là giết cha (pitughāta), giết mẹ (matughāta), giết A-lahán (arahattaghāta), chia rẽ tăng chúng (sanghabhedana) và làm thân Phật chảy máu (lohituppāda).

Tà Kiến trong 4 Thủ
  1. Sắc do Thủ (upādinnarūpa) ở đây chỉ cho 18 Sắc Nghiệp vốn hình thành từ Tham Ái (taṇhā) và Tà Kiến (diṭṭhi) đời trước. 10 Sắc còn lại gọi là Sắc Phi do Thủ (anupādinnarūpa). Tham Ái ở giai đoạn mãnh liệt và có Tà Kiến đi cùng thì được gọi là Thủ. Nói Ái duyên Thủ (taṇhāpaccayā upādānaṃ) là ý này.
  2. Kiến Thủ (diṭṭhupādāna): là sự đam mê chấp trước những Tà Kiến nằm ngoài Giới Cấm Thủ và Ngã Chấp Thủ. Như tin Thượng đế tối cao, thiên đường vĩnh cửu hay thờ phụng ma quỷ, thần vật. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  3. Giới Cấm Thủ (sīlabbatupādāna) là sự chấp chặt trong các tín điều không nhắm đến cứu cánh Níp-bàn và cách hành trì nằm ngoài Bát Chánh Đạo. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  4. Ngã Chấp Thủ (attavādupādāna) là sự chấp chặt trong ý niệm “Tôi, của tôi” do tác động của Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi). Thủ này là sự chấp chặt quan điểm Ngã (ahankāra) và Ngã Sở (mamaṅkāra) như có tôi, của tôi, có hắn, của họ. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
Tà Kiến trong 4 Lậu

Kiến Lậu (diṭṭhāsava) là một trong tứ lậu. Là tâm sở Tà Kiến (diṭṭhi) trong 4 tâm tham đi chung Tà Kiến (lobhamūladiṭṭhigatasampayuttacitta) trong trường hợp Thường Kiến và Đoạn Kiến, kể rộng có 62 Tà Kiến (xem lại kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh). Cốt lõi của Tứ Lậu chỉ có 3 thứ phiền não là Tham, Tà Kiến và Si. Chính 3 pháp này đã tạo nên vòng tròn Duyên Khởi.

Tà Kiến trong 4 Kết
  • Giới Cấm Thủ (sīlabbataparāmāsa): Là sự chấp chặt trong các tín điều không nhắm đến cứu cánh Níp-bàn và cách hành trì nằm ngoài Bát Chánh Đạo. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Cực Đoan Kiến (idaṃsaccābhinivesa): Là thái độ ôm ấp những điều sai lầm hoặc khiếm khuyết rồi phủ nhận những điều mình chưa thấy, chưa biết. Chi pháp cũng là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
Tà Kiến trong 7 Tiềm miên
  • Kiến tiềm miên (diṭṭhānusaya): Là tất cả những suy nghĩ sai lầm về các pháp, gom chung là Thường Kiến và Đoạn Kiến. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Hoài Nghi tiềm miên (vicikicchānusaya): Là tất cả những Hoài Nghi liên hệ Tà Kiến. Chi pháp là tâm sở Hoài Nghi (vicikicchā) trong tâm si Hoài Nghi (mohamūlavicikicchāsampayuttacitta).
    Nhu Tánh, Nhu Tâm (kāyamudutā, cittamudutā): Là trạng thái linh hoạt, ôn nhu, không cứng cỏi (akakkhaḷatā), không ngoan cố (akathiṇatā) trong tâm thiện, giúp tâm khỏi bị Tà Kiến và Kiêu Mạn. Hai tâm sở này hỗ trợ cho tâm sở Tín và Vô Sân.

 


 

Tham ← ← Liệt kê 52 Tâm Sở → Mạn


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de