| Tham ← | Tà kiến | → Mạn |
|---|
![]() Tà kiến (diṭṭhi) Tà kiến (diṭṭhi). Diṭṭhi thuộc tánh bất thiện nên hiểu là micchādiṭṭhi tức là tà kiến. Tà kiến là thấy sai lầm, quan điểm không đúng chân lý. Tâm sở tà kiến có tướng trạng là xu hướng phi lý (ayoniso abhinivesalakkhaṇā), có nhiệm vụ là cố chấp (parāmāsarasā), có biểu hiện chấp sai lạc (micchābhinivesapaccupaṭṭhānā), nhân gần là không muốn gặp bậc thánh …v.v… (ariyānaṃ adassanakāmatādipadaṭṭhānā). Tâm sở tà kiến chỉ có mặt trong 4 tâm tham tương ưng tà kiến. (trích Triết Học A Tỳ Đàm) Tà Kiến (micchādiṭṭhi): Là tâm sở có trạng thái khiến tâm hiểu sai sự thật thay vì là sự không hiểu như ở tâm sở Si. Kinh giải thích rằng tâm sở Si khiến ta không thấy những khía cạnh Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Từ đó tâm sở Tham mới có cơ hội làm công việc ưa thích hay nắm chặt và tâm sở Tà Kiến thì ghép các khái niệm Thường, Đoạn vào đó. Đây là lý do tại sao tất cả các Tà Kiến đôi khi được gọi chung là Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi) hay Ngã Kiến (attadiṭṭhi), vốn chỉ được chấm dứt hẳn khi một người chứng Sơ quả (sotāpattimagga). (trích Vô Tỷ Pháp Tập Yếu - TL Tịnh Sự - tb.2019) Tà Kiến (micchādiṭṭhi): (bắt nguồn từ căn dis) ‘Diṭṭhi’ được dịch là ‘kiến, mê tín, quan điểm, v.v…’. Sammā diṭṭhi nghĩa là chánh kiến. Ở đây, diṭṭhi là một tâm sở bất thiện (akusala cetasika), cho nên ‘diṭṭhi’ được dùng với ý nghĩa là ‘tà kiến’. Tà kiến là sự nhận định hay cố chấp theo pháp sai không đúng với chơn lý bản thể thật, tức là micchaṭṭādiṭṭhi đã kể trong phần tâm tham trước rồi, nay chỉ thêm ý nghĩa. Có Pāḷi và cách Chú giải như vầy: Micchā passatīti = diṭṭhi: Nhận thấy sai với chơn pháp gọi là tà kiến. Si (Moha) đã được giải thích phía trên là che mù ý và làm mù pháp nhãn không cho thấy thực tính của pháp. Si làm chúng sanh thấy chư pháp là thường (nicca), lạc (sukha), ngã (atta) và tịnh (subha). Bởi vì tà kiến này, tham (lobha) bám dai dẳng hay dính mắc vào ‘ta hay người’ và tà kiến nhận định sai cho ‘ta và người’ là thật sự hiện hữu. Tà kiến căn bản và phổ biến nhất là thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) hay ngã kiến (atta-diṭṭhi). Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) tin rằng sự phối hợp của tâm và thân là ‘tôi’, ‘bạn’, ‘anh ấy’, ‘cô ấy’, ‘đàn ông’, ‘đàn bà’, ‘người’, v.v… . Ngã kiến (atta-diṭṭhi) tin có sự hiện hữu của một ‘ngã hay linh hồn’ hoặc ‘bản ngã’ hay ‘thực thể’ trong thân. Xuất phát từ thân kiến hay ngã kiến này cũng như từ sự không biết của si làm nảy sinh hàng ngàn nhận định sai lầm (tà kiến). Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) là một trong mười pháp triền (quấn chặt) hiện hữu. Nó chỉ được loại trừ khi đạt đến Thất lai đạo (Sotāpatti-magga). Katamā tasmiṃ samaye micchādiṭṭhi hoti? Yā tasmiṃ samaye diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ1 diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho patiṭṭhāho2 abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyesagāho, 3 ayaṃ tasmiṃ samaye micchādiṭṭhi hoti. Tà kiến trong khi có ra sao? Kiến thức tức là thiên kiến, hoang vu kiến, ký khu kiến, thù nghịch kiến, biến hóa kiến, kiến thức như triền, chấp trước nghịch kiến, kiến hoặc, khinh thị, lộ đồ sai1, tà đạo, sự sai căn nguyên, tà giáo, chấp ngược có trong khi nào, đây gọi là tà kiến có trong khi ấy. Bốn ý nghĩa (aṭṭha) của tâm sở tà kiến: - Trạng thái là chấp cứng những cách không đáng chấp (ayoniso abhinivesalakkhaṇā). - Phận sự là suy xét sai với sự thật (pārāmāsaraso). - Thành tựu là chấp cứng theo sự nhận sai (micchābhinivesapaccupaṭṭhānā). - Nhân cận là chấp cứng rằng chỉ sự nhận thấy của ta là đúng (daḷhaggahapaccupaṭṭhānā) hay là không chịu gặp bậc hiền trí, nhất là Đức Phật v.v… (sappurisavimukkatāpaṭṭhānā). Tài liệu về Tà Kiến Tham (lobha) cùng với hai pháp khác trong bọn, là tà kiến (diṭṭhi) và ngã mạn (māna) có nhiệm vụ kéo dài vòng đời hay vòng sinh tử mà thường được gọi là saṃsāra (vòng luân hồi). Trên thực tế, tham (lobha), tà kiến (diṭṭhi), ngã mạn (māna) được gọi chung là pháp chướng ngại (papañca dhamma). Ba tâm sở ‘tham, tà kiến và ngã mạn’ gom chung lại gọi là tham-phần là bọn tâm sở tham, chỉ hợp trong vòng tâm tham. Tà KiếnThường kiến (sassatadiṭṭhi chấp hữu) là 3 cái tin sai: Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi) Trọng Nghiệp (garukakamma): Gồm những nghiệp thiện ác có khả năng mãnh liệt không thể ngăn chận được bằng bất cứ một nghiệp nào khác và chắc chắn sẽ cho Quả Dị Thục ngay đời kế tiếp. Trọng nghiệp bất thiện gồm Tà Kiến Cố Định (niyatamicchādiṭṭhi) và 5 tội đại nghịch còn gọi là Nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma) là giết cha (pitughāta), giết mẹ (matughāta), giết A-lahán (arahattaghāta), chia rẽ tăng chúng (sanghabhedana) và làm thân Phật chảy máu (lohituppāda). Tà Kiến trong 4 Thủ
Kiến Lậu (diṭṭhāsava) là một trong tứ lậu. Là tâm sở Tà Kiến (diṭṭhi) trong 4 tâm tham đi chung Tà Kiến (lobhamūladiṭṭhigatasampayuttacitta) trong trường hợp Thường Kiến và Đoạn Kiến, kể rộng có 62 Tà Kiến (xem lại kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh). Cốt lõi của Tứ Lậu chỉ có 3 thứ phiền não là Tham, Tà Kiến và Si. Chính 3 pháp này đã tạo nên vòng tròn Duyên Khởi. Tà Kiến trong 4 Kết
|
| Tham ← | ← Liệt kê 52 Tâm Sở | → Mạn |