A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

← 52 Tâm Sở

Chánh thân-tâm ← Ngăn Trừ Phần → Bi



Ngăn Trừ Phần (Viraticetasika)

Chánh ngữ (sammāvācā), Chánh nghiệp (sammākammanto) và Chánh mạng (sammāājīvo)
Sự ngăn trừ khẩu ác hạnh, gọi là chánh ngữ; Sự ngăn trừ thân ác hạnh, gọi là chánh nghiệp; Sự ngăn trừ ba ác hạnh nuôi mạng, gọi là chánh mạng. Ba tâm sở nầy đều là đặc tính ngăn trừ ác hạnh, nên gọi chung là tâm sở ngăn trừ phần (viraticetasika). Tâm sở ngăn trừ phần có tướng trạng là không vi phạm thân khẩu ý ác hạnh (kāyaduccaritādivatthūnaṃ avītikkamalakkhaṇā), có nhiệm vụ là chối bỏ thân khẩu ý ác hạnh (kāyaduccaritādivatthuto saṅkocanarasā), có biểu hiện là không làm ác hạnh (duccaritānaṃ akiriyapaccupaṭṭhānā), nhân gần là những đức tính như tín, tàm, quý, thiểu dục …v.v… (saddhāhirottappāppicchādiguṇapadaṭṭhānā).

(trích Tirết học A Tỳ Đàm)

Chánh Ngữ (sammāvācā): Là trạng thái tâm lý phải có khi một người nói lời chánh ngữ, tức một lời nói không nằm trong bốn lỗi: Dối trá (musavādā), đâm thọc (pisuṇavācā), ác ngữ (pharusavācā) và phiếm luận (samphappalāpa).

Chánh Nghiệp (sammākammanta): Là trạng thái tâm lý cần có khi một người hành động bằng thân để tránh các thân ác nghiệp.

Chánh Mạng (sammājīva): Là trạng thái tâm lý cần có khi một người nghĩ tới việc mưu sinh, nhằm tránh các nghề tà mạng như buôn gian bán lận hay trao đổi những hàng hóa độc hại như vũ khí, thuốc nghiện, nô lệ, thú để ăn thịt hoặc kinh doanh thân xác phụ nữ.

(trích Vô Tỷ Pháp Tập Yếu - TL Tịnh Sự - tb.2019)

Sammāvācā sammākammanto sammāājīvo ceti tisso viratiyo nāma.
Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Ba tâm sở này gọi là tâm sở ngăn trừ.

Viraṭi = Vi + căn ram.

Ba tâm sở ngăn trừ phần (virati cetasika) được gọi là những chi đạo giới (sīla maggaṅga). Chúng tạo thành học giới ( sīla sikkhā) là nền tảng của 8 chi đạo, đó là:

Sammā-vācā = chánh ngữ.
Sammā-kammanta = chánh nghiệp.
Sammā-ajīva = chánh mạng.

Chánh Ngữ (sammāvācā)


Chánh Ngữ có bốn phần, tức là ngăn ngừa khỏi:
Musāvādā = nói dối, vọng ngữ.
Pisuṇavācā = nói lời đâm thọc, nói hai lưỡi, nói phỉ báng.
Pharusavācā = nói lời ác độc, ác ngữ.
Samphappalāpa = nói nhảm nhí, vô ích, tạp uế.

Khi chúng sanh đối diện với việc phạm một trong 4 phần trên và vị ấy từ chối việc phạm, vị ấy đạt được Chánh Ngữ tức thì trong sự ngăn ngừa.

Katamā tasmiṃ samaye sammāvācā hoti? Yā tasmiṃ samaye catūhi vacīduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṃ anajjhāpatti velā-anatikkamo setughāto sammāvācā maggaṅgaṃ maggapariyāpannaṃ, ayaṃ tasmiṃ samaye sammāvācā hoti.
Chánh ngữ trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm đến tứ ác ngữ, chánh ngữ là chi của đạo, trọn liên hệ trong đạo, lời nói chơn chánh có trong khi nào, thì chánh ngữ có trong khi ấy.

Chánh Nghiệp (sammākammanta)


Chánh Nghiệp (sammākammanta) ở đây nghĩa là thân hành động ngăn ngừa khỏi:
Pāṇātipātā = giết hại (chúng sanh).
Adinnādānā = trộm cắp.
Kāmesu Michhācārā = tà dâm.

Và nữa, khi chúng sanh đối diện với việc phạm một trong những ác hạnh trên mà từ chối việc phạm, vị ấy đạt được Chánh Nghiệp tức thì trong sự ngăn ngừa.

Katamo tasmiṃ samaye sammākammanto hoti? Yā tasmiṃ samaye tīhi kāyaduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṃ anajjhāpatti velā-anatikkamo setughāto sammākammanto maggaṅgaṃ maggapariyāpannaṃ, ayaṃ tasmiṃ samaye sammā kammanto hoti.
Chánh nghiệp trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa, không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm ba thân ác hạnh, chánh nghiệp là chi của đạo, trọn liên hệ trong đạo, hành động chơn chánh có trong khi nào, thì chánh nghiệp có trong khi ấy.

Chánh Mạng (sammājīva)


Chánh Mạng (sammājīva) nghĩa là kiêng khem, từ chối nghề mà mang lại sự tai hại cho chúng sanh khác, như là mua bán vũ khí, chúng sanh, chất say và chất độc cũng như sự giết hại, câu cá, nghiệp binh đao, gian dối lừa lọc, bói toán, lừa đảo, v.v…

Katamo tasmiṃ samaye sammā-ājīvo hoti? Yā tasmiṃ samaye micchāājīvā ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṃ anajjhāpatti velā-anatikkamo setughāto sammā-ājīvo maggaṅgaṃ maggapariyāpannaṃ, ayaṃ tasmiṃ samaye sammā-ājīvo hoti.
Chánh mạng trong khi có ra sao? Sự chừa bỏ, cách chừa bỏ, càng chừa bỏ, tránh xa không làm, không đá động, không hiệp tác, không phạm tà mạng, chánh mạng là chi của đạo, trọn liên hệ trong đạo, sự nuôi mạng chơn chánh có trong khi nào, thì chánh mạng có trong khi ấy.

Ba tâm sở trên gọi chung là tâm sở giới phần (viratīcetasika) cùng có 4 ý nghĩa như sau:
- Trạng thái là ngăn trừ khỏi làm thân, khẩu ác (viratīduccarita avītikkamalakkhaṇā).
- Phận sự là thoái thác khỏi thân, khẩu ác (tatosaṅkocanarasā).
- Thành tựu là không đành làm thân, khẩu ác (akiriyapaccupaṭṭhānā).
- Nhân cận là có ân đức tài sản của bậc hiền triết như là tín, niệm, tàm, úy và thiểu dục (saddhāsatihiriottappa appicchatādiguṇapadaṭṭhānā).

Tâm sở giới phần (viraticetasika) phối hợp với 8 tâm đại thiện và 8 hoặc 40 tâm siêu thế. Nhưng đối với tâm siêu thế hợp nhất định và đủ luôn luôn, nên trong văn lục bát nói: “Giới phần mười sáu hiệp chan”. Đối với tâm siêu thế phối hợp nhất định, mỗi lần đều có và đủ ba. Còn phối hợp với đại thiện thì bất định, khi có khi không và hiệp riêng mỗi thứ.

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Tịnh xá Kỳ Viên, của ông Anathapindika gần thành Savatthi. Rồi một nam cư sĩ tên là Dhammika cùng với năm trăm cư sĩ khác đến viếng Thế Tôn. Sau khi đến gần và đảnh lễ Thế Tôn, họ kính cẩn ngồi xuống một bên và cư sĩ Dhammika thưa với Thế Tôn bằng bài kệ rằng:

Kính thưa Tôn giả Gotama, Bậc Trí tuệ rộng lớn, con kính xin hỏi ngài: Một vị đệ tử xuất gia và một vị đệ tử tại gia nên hành xử như thế nào để được xem là hoàn thiện?

(...)

(5 giới)

Bây giờ ta sẽ giảng cho các con về những bổn phận của người cư sĩ tại gia mà nếu sống theo đó, người ấy sẽ trở thành một để tử tại gia toàn thiện. Vì vẫn còn bận bịu với đời sống gia đình, người đệ tử tại gia không thể thành tựu tất cả các Pháp hành của người xuất gia.

(1. không sát sanh)
Người cư sĩ tại gia không nên sát sanh, không tạo điều kiện cho việc sát sanh, và không tán đồng hành động sát sanh của người khác. Vì ấy không nên làm thương tổn bất cứ chúng sanh nào trên thế gian, cho dù chúng sanh mạnh hoặc yếu.

(2. không trộm cắp)
Khi biết một vật thuộc về người khác, người Phật tử tại gia quyết không trộm cắp bất cứ vật gì ở bất cứ nơi nào. Vị ấy không sai khiến người khác trộm cắp và không tán đồng hành vi trộm cắp của người khác. Người ấy nên từ bỏ và chấm dứt tất cả những hành vi trộm cắp.

(3. không tà dâm)
Người hiền trí nên tránh xa đời sống tà hạnh như tránh hầm than đang hừng hực cháy. Nếu tự mình không thể hoàn toàn sống đời Phạm hạnh, thì vị ấy không nên xâm phạm đến vợ người khác.

(4. không nói dối)
Khi ở trước hội chúng, nơi công cộng, hay khi một mình, vị ấy không nên nói dối. Vị ấy không nên xúi giục người khác nói dối, cũng không tán đồng việc người khác nói dối. Vị ấy nên hoàn toàn tránh xa tất cả những điều không thật.

(5. không dùng chất gây say)
Khi đã quen thuộc và gần gũi với giáo Pháp, người cư sĩ tại gia không nên dễ duôi uống rượu và các chất say. Vì biết rằng uống rượu cuối cùng sẽ dẫn tâm trí chỗ điên loạn, vị ấy không uống rượu, không xúi giục người khác uống rượu, và không tán đồng hành động uống rượu của người khác.

Vì say sưa men rượu, người ngu sẽ làm những việc xấu ác và khiến những kẻ vô tâm khác cũng làm theo như thế. Người cư sĩ tại gia nên từ bỏ và tránh xa việc uống rượu và các chất say vì đó là việc làm không mang lại phước báo mà chỉ mang lại sự điên loạn và mê mờ tâm trí, và đó là lạc thú của hạng người ngu muội và hạ tiện.

(8 giới)

(1) Không sát sanh; (2) không lấy của không cho; (3) không nói dối; (4) không uống rượu; (5) không có quan hệ tình dục; (6) không ăn sai thời và ăn vào ban đêm. (7) không đeo tràng hoa hay thoa các nước thơm; (8) hãy nằm trên chiếu trải dưới đất.

Tám hạnh này được gọi là Bát Quan Trai Giới được Đức Phật, Đấng Toàn giác đã chinh phục khổ đau, tuyên thuyết.

Hãy hoan hỷ giữ trong sạch và đầy đủ tám giới này vào ngày thứ mười bốn, mười năm, và tám của mỗi hai tuần trong một tháng âm lịch.

Rồi buổi sáng sau ngày Trai Giới, với tâm tín thành và hoan hỷ, bậc hiền trí đã thọ Bát Quan Trai nên tùy theo khả năng của mình và hợp lẽ đạo, cúng dường thức ăn và đồ uống đến chư Tăng.

Hãy phụng dưỡng cha và mẹ hợp với chánh pháp và làm nghề đúng với chánh pháp, Người cư sĩ nào chuyên cần làm tròn những bổn phận này sẽ được sanh về cõi trời "Tự Quang Minh".

(Kinh Dhammika, Kinh Tập 2, 14, N.T.T.)

 


 

Chánh thân-tâm ← ← Liệt kê 52 Tâm Sở → Bi


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de