A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

← 52 Tâm Sở

Ngăn Trừ Phần ← Bi → Tuỳ Hỷ



Bi (karuṇā)

Bi (karuṇā) là lòng trắc ẩn trước sự khổ của chúng sanh khác, đang bị khổ hay sẽ bị khổ. Đặc tính của bi là đem lại sự giảm khổ (dukkhāpanayanākārappavattilakkhaṇā), có nhiệm vụ là không chịu được nỗi khổ của người khác (paradukkhāsahanarasā), có biểu hiện là sự không tàn bạo (avihiṃsāpaccupaṭṭhānā), nhân gần là thấy sự khốn đốn của những chúng sanh bị đau khổ (dukkhābhibhūtānaṃ anāthabhāvadassanapadaṭṭhānā).

(trích Triết Học A Tỳ Đàm)

Bi Mẫn (karuṇā): Bi mẫn là sự động tâm trắc ẩn trước nỗi khổ của người khác, là lòng muốn người thoát khổ. Trở ngại trực tiếp của tâm Bi Mẫn là Lòng Hại Người (hiṃsa) và trở ngại gián tiếp là sự Buồn Khổ Bi Lụy (domanassa).

(trích Vô Tỷ Pháp Tập Yếu - TL Tịnh Sự - tb.2019)

Karuṇā muditā appamaññāyo nāmāti sabbathāpi paññindriyena saddhiṃ pañcavīsatime cetasikā sobhanāti veditabbā.
Bi, tùy hỷ gọi là tâm sở vô lượng, với trí quyền. Tất cả thành 25 tâm sở tịnh hảo nên được biết.

Karuṇā = Bi
Muditā = Tùy hỷ

Có bốn trạng thái vô lượng hay vô hạn. Để nêu theo thứ tự thường được tu tập, đó là từ (mettā), bi (karuṇā), tùy hỷ (muditā) và xả (upekkhā).

Hai pháp đã được trình bày ở trên là từ (mettā) được gom trong vô sân (adosa) và xả(upekkhā) trong trung bình(tatramajjattatā).

Trong việc tu tiến bất cứ pháp nào trong bốn vô lượng, chúng ta có thể hướng sự chú tâm đến một chúng sanh hay tất cả chúng sanh trong thế gian. Do đó, những pháp này được gọi là ‘vô lượng’.
- Trong việc tu tiến pháp ‘từ’ (mettā), chúng ta niệm ‘mong cho tất cả đặng sự an vui’.
- Trong việc trau dồi pháp ‘bi’ (karanā), chúng ta niệm ‘mong cho tất cả thoát khỏi những khổ’.
- Trong việc tu tập pháp ‘tùy hỷ’ (muditā), chúng ta hoan hỷ trước sự thành tựu của chúng sanh và niệm ‘mong cho họ đạt được những lợi ích lâu dài’.
- Trong việc tu tiến pháp ‘xả’ (upekkhā), chúng ta duy trì sự quân bình tâm và niệm: ‘Dù cho tất cả chúng sanh như thế nào đều do nghiệp của họ’.

Người nào rải khắp thế gian với pháp từ (mettā), bi (karuṇā), tùy hỷ (muditā) và xả (upekkhā) thì được gọi là sống trong cõi trời hay Phạm thiên. Do đó, bốn vô lượng cũng được gọi là “Brahma-vihāra”, tức là Phạm trú.
Mettā (từ) (bắt nguồn từ căn mid) là thành thật mong những điều tốt đẹp và lợi ích cho tất cả. Nó loại trừ những ác tâm là kẻ thù trực tiếp. Kẻ thù gián tiếp của nó là tình thương (pema). Trạng thái chánh của nó là thái độ nhân từ.


Bi (karuṇā) (căn Kar làm, chế tạo + unā)

“Bi” là cách thương hại, tội nghiệp cho chúng sanh đang và sẽ khổ, tức là không đành để cho chúng sanh chịu những khổ hay là muốn cứu khổ cho chúng sanh. ‘Bi’ làm cho tâm của hiền nhân rung động khi chúng sanh bị đau khổ với nỗi đau; trạng thái chánh là mong nhổ cái khổ của chúng sanh. Nó loại trừ sự hung ác và nguy hại (hiṃsa) là kẻ thù trực tiếp. Kẻ thù gián tiếp là pháp ưu (domanassa).

Bốn ý nghĩa (aṭṭha) của tâm sở bi:

- Trạng thái là mong muốn chúng sanh khỏi khổ (paradukkhāpanayanākārapavatti-lakkhaṇā).
- Phận sự là không chịu nổi để nhìn coi chúng sanh (ngoài ra ta) chịu khổ (paradukkhāsahanarasā).
- Thành tựu là không ép uổng chúng sanh (ngoài ra ta) (avihiṃsapaccupaṭṭhānā).
- Nhân cận là có chúng sanh thọ khổ (dukkhābhibhūtānaṃ anāthabhāvadassana-padaṭṭhānā).
 


 

Ngăn Trừ Phần ← ← Liệt kê 52 Tâm Sở → Tuỳ Hỷ


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de