
| ĐIÊN ĐẢO | SỰ THẬT |
| Thường | Vô thường - Không có cái gì để gọi là bền, là trường cửu |
| Lạc | Khổ - Tất cả là Khổ – ngay cả cái sướng cũng đều là sướng trong Khổ |
| Ngã | Vô ngã - Không có cái Tôi, cái Ta |
| Mỹ (Tịnh) | Bất Mỹ - Không có cái gì để gọi là Đẹp |
| Kiến điên đảo Diṭṭhivipallāsa tâm sở Tà kiến | Tưởng điên đảo Saññavipallāsa tâm sở Tưởng hợp tâm Tham Ly Tà | Tâm điên đảo Cittavipallāsa tâm Tham Ly Tà | |
| Thường | PHÀM | PHÀM | |
| Ngã | PHÀM | PHÀM | |
| Mỹ (Tịnh) | PHÀM | PHÀM | |
| SƠ QUẢ (TU ĐÀ HƯỜN) | |||
| NHỊ QUẢ (TƯ ĐÀ HÀM) - còn thấy cái đẹp | |||
| Lạc | PHÀM | PHÀM | |
| SƠ QUẢ (TU ĐÀ HƯỜN) | |||
| NHỊ QUẢ (TƯ ĐÀ HÀM) | |||
| TAM QUẢ (A NA HÀM) - còn thấy sự an lạc (trong Thiền) | |||
Vipallāsasutta | Ðiên Ðảo Tưởng |
| Aṅguttara Nikāya 4 5. Rohitassavagga 49. | Kinh Tăng Chi 4 V. Phẩm Rohitassa 4. 49. |
| “Cattārome, bhikkhave, saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā. Katame cattāro? | Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn? |
| Anicce, bhikkhave, niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; | Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. |
| dukkhe, bhikkhave, sukhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; | Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. |
| anattani, bhikkhave, attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso; | Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. |
| asubhe, bhikkhave, subhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso. | Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. |
| Ime kho, bhikkhave, cattāro saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā. | Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. |
| Cattārome, bhikkhave, nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā. Katame cattāro? | Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn? |
| Anicce, bhikkhave, aniccanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; | Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. |
| dukkhe, bhikkhave, dukkhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; | Trong khổ, nghĩ là khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. |
| anattani, bhikkhave, anattāti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso; | Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. |
| asubhe, bhikkhave, asubhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso. | Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. |
| Ime kho, bhikkhave, cattāro nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsāti. | Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. |
| Anicce niccasaññino, | Trong vô thường, tưởng thường. |
| dukkhe ca sukhasaññino; | Trong khổ, tưởng là lạc, |
| Anattani ca attāti, | Trong vô ngã, tưởng ngã, |
| asubhe subhasaññino; | Trong bất tịnh, tưởng tịnh, |
| Micchādiṭṭhihatā sattā, | Chúng sanh đến tà kiến, |
| khittacittā visaññino. | Tâm động, tưởng tà vọng, |
| Te yogayuttā mārassa, | Bị ma trói buộc chặt, |
| ayogakkhemino janā; | Không thoát khỏi ách nạn, |
| Sattā gacchanti saṁsāraṁ, | Chúng sanh bị luân chuyển, |
| jātimaraṇagāmino. | Trong sanh tử luân hồi. |
| Yadā ca buddhā lokasmiṁ, | Khi chư Phật xuất hiện, |
| Uppajjanti pabhaṅkarā; | Ở đời chói hào quang, |
| Te imaṁ dhammaṁ pakāsenti, | Tuyên thuyết diệu pháp này, |
| Dukkhūpasamagāminaṁ. | Ðưa đến khổ lắng dịu. |
| Tesaṁ sutvāna sappaññā, | Nghe pháp, được trí tuệ, |
| sacittaṁ paccaladdhā te; | Trở lại được tự tâm, |
| Aniccaṁ aniccato dakkhuṁ, | Thấy vô thường, không thường, |
| dukkhamaddakkhu dukkhato. | Thấy đau khổ, là khổ, |
| Anattani anattāti, | Thấy tự ngã, không ngã, |
| asubhaṁ asubhataddasuṁ; | Thấy bất tịnh, không tịnh, |
| Sammādiṭṭhisamādānā, | Do hành chánh tri kiến, |
| sabbaṁ dukkhaṁ upaccagun”ti. | Vượt qua mọi đau khổ. |
|
Bốn pháp thiên vị (agati) Là sự cư xử thiên lệch:
|
|
Bốn thứ Đạo Quả
Đạo (magga) là thánh trí đoạn trừ phiền não. Quả (phala) là thánh trí an tịnh phiền não.
|
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh(theo Nguyên Thủy) Chuyện đầu tiên khi tu Tứ niệm xứ là phải có chánh niệm và trí tuệ. Chánh niệm nó cho mình biết cái HOW. Có nghĩa là biết cơ thể thân tâm mình nó đang như thế nào? Nó đang đi đứng, đang nằm, ngồi, tiểu tiện, nhai nuốt, co duỗi, cầm lên, để xuống...Đó là biết cái how. Còn biết cái WHAT là biết rõ cái gì mà nó đang diễn ra. Đang đi biết là đang đi. Bực mình nó xảy ra biết rõ “ố ô đây là tâm sân, ố ô đây là ganh tị, ố ô đây là sự sợ hãi”. Biết cái đó là biết cái what. "How" là thế nào, "What" là cái gì? Nhưng đủ chưa? – Chưa! Sẽ có một ngày khi niệm, tuệ nó đủ rồi thì tự nhiên các vị sẽ từng bước bỏ được 4 cái "điên đảo kiến" sau đây:
Bên Bắc truyền gọi là 4 cái này là "thường lạc ngã tịnh" và họ có nhiều cách diễn giải tôi không muốn bàn ở đây. Đó là chuyện tế nhị, nhạy cảm. Tôi chỉ muốn nói mấy bản Hán tạng dịch là “thường lạc ngã tịnh”. Nhưng chữ “tịnh” ở đây tôi đã nói một tỷ lần rồi. Họ dịch chữ “tịnh” này là do khuynh hướng hồi xưa ở các dịch trường có những vị du học ở Ấn Độ về cực giỏi tiếng Hán. Nhưng cũng có những vị du học Ấn về cực giỏi tiếng Phạn. Rồi họ dạy cho lớp truyền thừa tại Trung Quốc, mà lớp này dĩ nhiên không giỏi bằng sư phụ. Để thúc đẩy tiến độ, tốc độ dịch Kinh cho lẹ, họ áp dụng một cách rất khoa học, nhưng hơi cứng ngắc. Đó là mỗi chữ Phạn như vậy họ chọn ra nghĩa nào mà nó phổ biến nhất, lấy cái nghĩa đó làm nghĩa qui định. Nghĩa là cứ hễ chạm tới chữ đó là cả một dịch trường, ông này dịch Pháp Hoa, ông kia dịch Lăng Nghiêm, Lăng Già, Kim cang, Trung Quán, Câu Xá, Trí Độ,...là tất cả cứ thấy chữ pañña là cứ phang vô “tuệ”tới, cứ thấy guṇa là quất “ân đức”, thấy subha thì dịch là “tịnh”. Cứ như vậy. Trong khi chữ “subha” và chữ “sobhana” đều cùng một nghĩa là “sạch, đẹp”. Trong tiếng Thái có chữ “saath” và tiếng Việt có chữ “sạch” là có cùng một gốc. Trong tiếng KhMer cũng có chữ “saạp” cũng nghĩa là “đẹp”, rất là thú vị! Thì chữ subha có hai nghĩa là “sạch”, “đẹp”. Nhưng các dịch trường thỏa thuận với nhau hễ thấy “subha” là phang tới chữ “tịnh” cho dễ nhớ. Cho nên "thường" là nicca (Pali), "lạc" là sukkha, "ngã" là atta, còn "tịnh" thì subha hai bên giống nhau. Thì cứ vậy từ đó mới ra khái niệm “thường lạc ngã tịnh”. Thực ra trong chú giải Nam truyền Pali ghi rất rõ chữ “subha” này là “đẹp”. Vì sao? Vì khái niệm “sạch” nó hạn chế lắm. Sạch nó chỉ đối với cái dơ, trong khi cái đẹp nó bao trùm luôn cả cái sạch. Thí dụ một bài hát đẹp, một ca từ đẹp, một nghĩa cử, một nụ hoa, một nhân cách, bầu trời, một ngày đẹp, cuộc tình đẹp... Mình thấy chữ “đẹp” này xài cho rất nhiều trường hợp vật chất lẫn tinh thần. Thực ra mà nói chữ “sạch”, thì mức hấp dẫn của chữ “sạch” cũng không bằng chữ “đẹp”. Cho nên căn cứ theo văn hóa, ngôn ngữ VN, và cũng căn cứ theo sớ giải Pali thì chữ “subha” này nên dịch là “mỹ”: “thường lạc ngã mỹ” chớ không phải “thường lạc ngã tịnh”. Nên nhớ cái câu này! Thì điên đảo kiến thứ nhứt là đi kiếm, tìm, xây dựng cái “thường tại” trong cái “vô thường”. Thứ hai là đi đầu tư kiến thiết xây dựng cái "hạnh phúc" trong cõi "đau khổ". Thứ ba là hy vọng, đầu tư, kiến thiết một "cái tôi, của tôi, thuộc về tôi" trong cõi đời "vô ngã". Thứ tư là đi tìm "cái đẹp" trong thế giới "không có đẹp xấu". Chỗ này định nghĩa hơi khó, không thể nói đi tìm “cái đẹp trong thế giới không đẹp” mà phải là “thế giới không đẹp xấu”. Bởi vì cái “đẹp xấu” là một giả niệm, vọng niệm, không có thật. Trích bài Dọn phòng - Sư Giác Nguyên giảng (11/01/2020) Kalama tri ân bạn buithibuukim ghi chép. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh(theo Đại Thừa)Tuy hiện tượng thế gian “Vô thường, Khổ, Vô ngã” có tác dụng chuyển, hóa tích cực cho những ai hành trì nó, nhưng trên thực tế, vô minh phiền não vẫn chưa hoàn toàn diệt tận, bởi lậu hoặc, tập khí, kiết sử, tùy miên chỉ bị cô lập chứ chưa thực sự biến mất, do đó sự thoát khổ, giác ngộ của hành giả chưa được rốt ráo. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Phật cho rằng con đường đạo chưa thể dừng lại ở mức này, mà phải tiến xa hơn với pháp “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh” tức tu tập hướng tới Niết-Bàn. Niết-bàn phiên âm từ tiếng Phạn là Nirvãna (Sanskrit), Nibbãna (Pali), dịch theo Hán Việt là “diệt độ”, “diệt tận”, “tịch diệt”, “bất sinh” hay “giải thoát”. Do vậy, Niết-bàn không phải là một thực thể, một nơi chốn tận cùng an lạc nào đó, không phải đợi đến khi chết đi mới nhập vào Niết-bàn, mà Niết-bàn tồn tại trong thâm tâm của mỗi con người. Theo quan niệm của Phật giáo thì Niết-bàn là trạng thái tâm thanh tịnh tuyệt đối, nghĩa là tâm dập tắt hoàn toàn ngọn lửa tham, sân, si. Người đạt được trạng thái Niết-bàn là người có thái độ sống an nhiên tự tại “thường, lạc, ngã, tịnh” ngay trong vòng xoáy “Vô thường, bất toại nguyện và vô ngã” nơi thế gian này! “Thường, lạc, ngã, tịnh” được xem là bốn đức tánh thù thắng của Niết-bàn. * Thường Sự giác ngộ đạt đến cảnh giới Niết-bàn là sự giác ngộ vĩnh viễn không biến đổi nên gọi là Thường. Niết-bàn hay Phật tánh hiện hữu tồn tại vĩnh cửu không biến hoại, không thay đổi trong bất cứ thời gian hay không gian nào. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm “Thánh Hạnh”, Đức Phật giảng về tánh THƯỜNG của Niết-bàn hay Phật tánh như sau: … “Thiện nam tử! Phật tánh không sanh không diệt, không đến không đi, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng phải do nhân làm ra, cũng chẳng phải không nhân không tạo tác, không người tạo tác, chẳng phải tướng, chẳng phải không có tướng, chẳng phải có tên, chẳng phải không tên, chẳng phải danh sắc, chẳng dài chẳng ngắn, chẳng phải bị nắm giữ trong ấm, giới, nhập. Vì thế Phật tánh gọi là THƯỜNG . Thiện nam tử! Phật tánh là Như Lai. Như Lai là pháp, pháp tức là thường.” … * Lạc An Lạc của Niết-bàn là hiện tại tuy sáu căn của cơ thể là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với bất cứ loại pháp trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nào… cũng bình thản tiếp nhận niềm vui bằng trí tuệ giác ngộ, biết chúng là “vô thường, bất toàn, vô ngã” nhưng vẫn duy trì được sự an tịnh và tự do, vẫn luôn an trú trong thế giới tịnh lạc xuất trần, không bị ràng buộc dính mắc thương yêu ghét bỏ hay sợ hãi như người đang sống trong cõi trần tục, đang hưởng hạnh phúc mà lo sợ cái hạnh phúc đang hưởng lúc nào đó sẽ biến mất! * Ngã Từ trước đến nay, học Phật, chúng ta biết toàn bộ giáo pháp của Ngài giảng dạy về sự thật Vô ngã, nhằm mục đích diệt trừ những khái niệm về Ngã ích kỷ, chấp trước đưa tới khổ đau cho con người! Trong kinh “Đại Bát Niết Bàn”, phẩm “Như Lai Tánh”, khi tôn giả Ca-Diếp nêu thắc mắc về “Ngã”, đức Phật giải thích rằng “Ngã Niết-bàn” là “Phật tánh”, ai cũng có. Nhưng vì bị vô minh, phiền não che lấp nên chúng sanh không nhận ra được. Đoạn văn đó như sau: “Này thiện nam tử! Ngã tức là nghĩa Như-Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của Ngã. Nghĩa của Ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được.” Cũng trong phẩm “Như Lai tánh”, đức Phật thuyết rằng Phật tánh là Ngã. Tánh Ngã này không sanh không diệt, không hư hoại, luôn có mặt, nhưng người thường không thể thấy được, chỉ những bậc đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mới nhận ra: “Phật tánh là hùng mãnh, không thể hư hoại, cho nên không có gì có thể phá hoại được. Phật tánh chẳng bao giờ có thể đoạn dứt. Tánh Ngã ấy chính là tạng Như Lai bí mật, không gì có thể làm cho hư hoại tiêu diệt. Dầu không thể phá hoại, nhưng người thường không thể thấy được. Nếu đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mới chứng biết được nó. Vì lẽ ấy, không ai có thể phá hoại được Phật tánh.” * Tịnh Tịnh nghĩa là trong sạch thuần khiết, không bị ô nhiễm, không còn bị lầm lỗi, dù chỉ là một lỗi nhỏ như hạt bụi. Đó là trạng thái vắng lặng, thanh bình nội tâm, với một cảm giác hoàn toàn tự do tự tại. Phật tử chúng ta thường được khuyến khích tu tập giữ gìn ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh. Thân, khẩu, ý là cửa ngỏ gây nên ác nghiệp và cũng là cửa ngỏ tạo nghiệp lành. Khi cả ba thân, khẩu, ý lúc nào cũng được thanh tịnh thì hành giả luôn cảm nhận được sự an lành, hạnh phúc. Kết Theo Phật Giáo Đại Thừa : “Thường, lạc, ngã, tịnh” là bốn thuộc tính của Niết-bàn không thay đổi, không sinh diệt, là trạng thái thanh tịnh nhất, cao quý nhất, là mục tiêu của người tu đạo Phật. Muốn chứng ngộ cảnh giới này, hành giả không thể không tu tập thiền. Tóm lại, đạt được bốn đức tính “thường, lạc, ngã, tịnh”, các vị Bồ-tát với lòng đại từ đại bi, với tâm nguyện tự giác, giác tha. Các Ngài ấy ứng thân một cách vô ngại không ngăn mé vào đời sống ô nhiễm khổ đau của nhân thế, thực hành Bồ-tát đạo hóa độ chúng sanh. Công tác tự nguyện này thật là nhiêu khê, không dễ dàng chút nào, bởi thế giới Ta Bà này là thế giới của Nhân quả, thế giới của trả nghiệp, vui có, buồn có, tử tế có, xằng bậy có, nên chúng sanh có người dễ dạy, cũng có người thật vô minh cứng đầu. Nhưng dù Bồ-tát lội ngược dòng nước xoáy, đi dưới trời mưa to giông bảo như thế nào đi nữa, thì các Ngài vẫn cảm thấy trong lòng có niềm vui thoát tục, đó là thường an lạc, thanh tịnh, tự do tự tại, an trú trong “Hữu Dư Y Niết-bàn”. Nguồn: Thích Nữ Hằng Như - thuvienhoasen.org |