A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

Các Bọn Sắc

Bọn Sắc
(Rūpa kalāpa)

28 thứ sắc pháp không tìm thấy riêng lẻ trong thiên nhiên. Chúng bị sanh do bốn nhân trợ dưới dạng những bọn sắc rất nhỏ gọi là kalāpa. Những bọn sắc (kalāpa) ấy có bốn đặc tính sau:
  1. Tất cả sắc trong bọn cùng sanh, tức là chúng cùng khởi đầu.
  2. Chúng cũng cùng diệt, tức là chúng cùng chấm dứt.
  3. Chúng hoàn toàn phụ thuộc vào bốn sắc đại hiển hiện diện trong bọn (kalāpa) để sanh, tức là chúng cùng nương.
  4. Chúng cũng hoàn toàn bị trộn lẫn không thể phân biệt, tức là chúng cùng tồn tại.
Nên lưu ý rằng nhóm hay bọn (kalāpa) thì rất nhỏ không thể thấy dù dưới kính hiển vi. Kích thước của kalāpa trong cõi Nhân loại chỉ bằng một 10-5 của một paramānu, nhỏ hơn một nguyên tử (atom). Cho nên, về kích thước, nhóm hay bọn (kalāpa) sắc được so sánh với một điện tử (electron), proton và neutron.

Có 21 nhóm hay bọn (kalāpa) sắc, đó là: 9 bọn sắc nghiệp (kammaja kalāpa), 6 bọn sắc tâm (cittaja kalāpa) + 4 bọn sắc quí tiết (utuja kalāpa) + 2 bọn sắc vật thực (āhāraja kalāpa).

9 bọn sắc nghiệp (kammaja kalāpa)

Chín bọn sắc nghiệp này hình thành từ 18 thứ sắc do nghiệp trợ tạo (kammaja rūpa). Trong cả 9 bọn (kalāpa) ấy, 8 sắc bất ly (avinibbhoga rūpa) hợp thành hạt nhân. Tất cả sắc do nghiệp trợ tạo luôn bao gồm sắc mạng (jīvita rūpa). Cho nên, một bọn 8 sắc bất ly và mạng quyền hợp thành bọn đơn giản nhất của sắc do nghiệp trợ tạo; được gọi là bọn sắc mạng cửu pháp (jīvita navaka kalāpa) nghĩa là nhóm 9 sắc gồm mạng quyền; có thể được rút ngắn thành jīvita nonad.

Bằng cách cộng 8 sắc nghiệp một nhân còn lại từng cái một với bọn sắc mạng cửu pháp (jīvita navaka kalāpa), chúng ta được 8 bọn sắc nghiệp còn lại.
  1. Bọn nhãn mười pháp (cakkhu dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + nhãn thanh triệt (cakkhupasāda).
  2. Bọn nhĩ mười pháp (sota dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + nhĩ thanh triệt (sota pasāda).
  3. Bọn tỷ mười pháp (ghāna dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + tỷ thanh triệt (ghāna pasāda).
  4. Bọn thiệt mười pháp (sota dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + thiệt thanh triệt (sota pasāda).
  5. Bọn thân mười pháp (kāya dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + thân thanh triệt (kāya pasāda).
  6. Bọn nữ tính mười pháp (itthibhāva dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + nữ tính (itthibhāva rūpa).
  7. Bọn nam tính mười pháp (purisabhāva dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + nam tính (purisabhāva rūpa).
  8. Bọn ý vật mười pháp (hadaya dasaka) = 8 sắc bất ly + sắc mạng + ý vật (hadaya vatthu).
  9. Bọn mạng chín pháp (jīvita navaka) = 8 sắc bất ly (avinibbhoga rūpa) + sắc mạng (jīvita rūpa).

6 bọn sắc tâm (cittaja kalāpa)

Chúng được tạo thành do 14 sắc tâm (cittaja rūpa) (trừ sắc giao giới).
  1. Bọn sắc tâm thuần tám pháp (cittaja suddhatthaka) = 8 sắc bất ly (avinibbhiga rūpa) sanh do tâm trợ.
  2. Bọn thân biểu tri chín pháp (kāyaviññatti navaka) = 8 sắc bất ly + thân biểu tri (kāya-viññatti).
  3. Bọn thinh khẩu biểu tri mười pháp (vaciviññatti sadda dasaka) = 8 sắc bất ly + thinh (sadda) + khẩu biểu tri (vacīviññatti).
  4. Bọn kỳ dị mười một pháp (lahutādi ekādasaka) = 8 sắc bất ly + nhẹ (lahutā) + mềm (mudutā) + thích sự (kammaññatā).
  5. Bọn thân kỳ dị mười hai pháp (kāyaviññatti lahutādi dvādasaka) = 8 sắc bất ly + thân biểu tri + kỳ dị (lahutādi) (3).
  6. Bọn khẩu thinh kỳ dị mười ba pháp (vacīviññatti sadda lahutādi terasaka) = 8 sắc bất ly + khẩu biểu tri + thinh + kỳ dị (3).



4 bọn sắc quí tiết (utuja kalāpa) - còn gọi là sắc nhiệt lượng

Chúng được hình thành theo nhóm từ 12 sắc quí tiết (utuja rūpa) (trừ sắc giao giới – pariccheda rūpa).
  1. Bọn quí tiết thuần tám pháp (utuja suddhaṭṭhaka) = 8 sắc bất ly (avinibbhoga rūpa) sanh do quí tiết trợ.
  2. Bọn quí tiết thinh chín pháp (sadda navaka) = 8 sắc bất ly + thinh (sadda).
  3. Bọn quí tiết kỳ dị mười một pháp (lahutādi ekādasaka) = 8 sắc bất ly + sắc kỳ dị (lahutādi rūpa) (3).
  4. Bọn quí tiết thinh kỳ dị mười hai pháp (sadda lahutādi dvādasaka) = 8 sắc bất ly + thinh + sắc kỳ dị (3).

2 bọn sắc vật thực (āhāraja kalāpa) - còn gọi là sắc dưỡng tố

Chúng được hình thành theo nhóm từ 8 sắc bất ly (avinibbhoga rūpa) và 3 sắc kỳ dị (lahutādi rūpa) sanh do vật thực trợ.
  1. Bọn vật thực thuần tám pháp (āhāraja suddhaṭṭhaka) = 8 sắc bất ly (avinibbhoga rūpa) sanh do vật thực trợ.
  2. Bọn vật thực kỳ dị mười một pháp (lahutādi ekādasaka) = 8 sắc bất ly + 3 kỳ dị (lahutādi).

Những Quan Điểm Thiết Thực

Tất cả sắc pháp có thể được quán sát và thẩm tra bởi một người quan tâm tinh cần tu tiến pháp chỉ và pháp quán.

Dù cho những bọn sắc không thể thấy dưới kính hiển vi, những bậc tu tiến có thể quán sát bằng tuệ nhãn là sự thấy của tâm phối hợp với cận định hay thiền định.

Bậc tu tiến nên quán sát bằng tuệ nhãn là có sáu bọn (kalāpa) trong nhãn – đó là bọn nhãn mười pháp, bọn thân mười pháp, bọn sắc tính mười pháp và ba bọn thuần tám pháp do tâm, quí tiết và vật thực trợ sanh, theo thứ tự. Cũng thế, bậc tu tiến nên quán sát sáu bọn có trong mỗi nhĩ, tỷ, thiệt – chỉ tuần tự thay bọn nhãn mười pháp bằng bọn nhĩ mười pháp, bọn tỷ mười pháp, bọn thiệt mười pháp khi liệt kê những bọn sắc này. Lưu ý rằng, sắc thân thanh triệt, sắc tính, sắc tâm, sắc quí tiết và sắc vật thực lan tỏa khắp thân thể nên chúng sẽ hiện diện trong mắt, tai, mũi, lưỡi và trong mỗi phần thân thể. Quán sát những bọn sắc không có nghĩa là vị ấy thấy sắc thực tính siêu lý. Những sắc được quán sát dưới dạng hạt, dù cho nhỏ cỡ nào, những sắc được quán sát chưa phải là sắc thực tính siêu lý. Sắc siêu lý không có hình dạng, không có khối lượng. Khi bậc tu tiến phân tích mỗi loại bọn sắc / hạt để quán sát những thành phần của nó thì cũng như người phân tích định tính của một mẩu đồng, thau để biết những thành phần của nó.

Ngài Ledi Sayadaw có viết bằng Miến ngữ trong một quyển sách với tựa đề “Kammatthan Kyan Gyi” ở trang 240 như sau:

“Khi một người nhìn xuyên qua một kính hiển vi hay một kính viễn vọng, vị ấy thấy dễ dàng không gặp những trở ngại mà ban đầu không thể thấy, vi tế và những cảnh xa xăm. Cũng thế, nếu bậc tu tiến phát triển thiền (jhāna), lấy pháp chỉ (samādhi) làm nền tảng cho pháp quán (vipassanā), bậc tu tiến có thể dễ dàng thấy không trở ngại những tướng phổ thông của vô thường, khổ và vô ngã là pháp rất sâu sắc, vi tế, rất xa và rất khó thấy. Kết quả là đạo tuệ (magga-ñāṇa) và quả tuệ (phala-ñāṇa) sanh là pháp có thể hoàn toàn đoạn tận bốn lậu hoặc (āsava).

Pháp Tứ đế và Níp-bàn là pháp rất sâu, vi tế, rất xa và rất khó thấy cũng được quán sát.”

Vô Tỷ Pháp Tập Yếu - TL Tịnh Sự (ed.2019) tr. 383


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de