A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de

10 Kiết Sử (saṁyojanā)

Kinh điển của Phật giáo thường đề cập đến bốn thánh quả vị mà tất cả những người con Phật phải nhắm đến trên đường giải thoát, đưa đến Niết-bàn. Các quả vị nầy được xem như là các dấu mốc – hoặc các chặng đường – trên hành trình thanh lọc tâm ý, tiêu diệt các ô nhiễm tiềm ẩn trong tâm, cắt đứt mười sợi dây trói buộc (kiết sử) chúng sinh vào vòng luân hồi.

Bốn quả vị đó là:
  1. Dự lưu (Sotāpanna, Tu-đà-hoàn)
  2. Nhất lai (Sakadāgāmi , Tư-đà-hàm)
  3. Bất lai (Anāgāmī, A-na-hàm)
  4. Vô sanh (Arahanta , A la hán).

Mười kiết sử là:
  1. 5 hạ phần kiết sử
    1. Thân kiến (Sakkāya-diṭṭhi)
    2. Hoài nghi (Vicikicchā)
    3. Giới cấm thủ (Sīlabata-parāmāsa)
    4. Dục ái (Kāma-rāga)
    5. Sân hận (Vyāpāda)

  2. 5 thượng phần kiết sử
    1. Sắc ái (Rūpa-rāga)
    2. Vô sắc ái (Arūpa-rāga)
    3. Mạn (Māna)
    4. Trạo cử vi tế (Uddhacca)
    5. Si vi tế (Avijjā)

Saṁyojana là kiết sử hay thằng thúc. Kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Mười phiền não nầy gọi là kiết sử, vì chúng nó có mãnh lực trói buộc loài hữu tình không cho ra khỏi ba cõi và sai sử chúng sinh phải xoay vần trong vòng sinh tử luân hồi, từ đời nầy đến kiếp nọ, và phải chịu không biết bao nhiêu điều khổ não. 
  1. Thân kiến (Sakkāya-diṭṭhi): là sự hiểu sai lạc về cái gọi là Tự ngã, hay cái Tôi, đồng hóa nó với một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
    Thân kiến là sự hiểu (thấy) sai về 5 uẩn. Nhận thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức uẩn là tự ngã.
    Chấp rằng: “tôi đau, tôi buồn, tôi vui, tôi thản nhiên...”

  2. Hoài nghi (Vicikicchā): Ngài Buddhaghosa, trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo, nói rằng “vicikicchā” phải hiểu là một thái độ cuồng tín mù quáng, không sẵn sàng tra vấn, học hỏi. Do đó cần phải trừ khử kiết sử nầy. Ðức Phật khuyến khích chúng ta phải biết suy tư, luận giải và chứng nghiệm, vì Pháp là “mời mọi người đến xem xét” (ehipassiko). Ðể rồi chúng ta thấy, biết rõ ràng sự ích lợi của Phật Pháp cho con đường hành trì, và từ đó mới có một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo, không còn thắc mắc, phân vân, hay do dự gì nữa.

    Hoài-nghi có 2 cách:
    1. Nivaraṇavicikicchā: Hoài-nghi làm pháp chướng-ngại của mọi thiện-pháp.
    2. Paṭirūpakavicikicchā: Hoài-nghi về những môn học chưa hiểu rõ, hoài-nghi về người, vật, v.v….
      
    Hoài-nghi làm chướng-ngại chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, và Niết-bàn.

    Có 8 loại hoài-nghi:
    1. Buddhe kaṅkhati: Hoài-nghi về Phật rằng:
      Đức-Phật có thật hay không? có phải người ta chế-định Đức-Phật ra để tôn thờ,…
      Hoài-nghi về 9 ân-Đức-Phật rằng: Đức-Phật có 9 Ân-Đức-Phật là có thật vậy hay không?
    2. Dhamme kaṅkhati: Hoài-nghi về Pháp rằng: Đức-Phật thuyết giảng 6 Ân-Đức-Pháp có thật vậy hay không?
    3. Saṃghe kaṅkhati: Hoài-nghi về Tăng rằng: Chư Thánh-Thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật có 9 Ân-Đức-Tăng là  có thật vậy hay không?
    4. Sikkhāya kaṅkhati: Hoài-nghi về 3 sikkhā là (i) adhisīlasikkhā: hành-giới bậc cao, (ii) adhicittasikkhā; hành-định bậc cao, (iii) adhipaññāsikkhā: hành-tuệ bậc cao trở thành bậc Thánh-nhân, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài, có thật vậy hay không?
    5. Pubbante kaṅkhati: hoài-nghi về ngũ-uẩn đã từng có trong kiếp trước thật hay không? Hoặc kiếp trước có thật vậy hay không?
    6. Aparante kaṅkhati: hoài-nghi về ngũ-uẩn sẽ có trong kiếp sau thật hay không? Hoặc kiếp sau có thật vậy hay không?
    7. Pubbantāparante kaṅkhati: hoài-nghi về ngũ uẩn kiếp trước, kiếp sau có thật hay không? Hoặc kiếp trước, kiếp sau có thật vậy hay không?
    8. Paṭiccasamuppāde kaṅkhati: hoài-nghi về pháp duyên-sinh: Những pháp phát sinh theo nhân và quả liên hoàn với nhau, quả của pháp trước, rồi làm nhân của pháp sau, cứ như vậy diễn tiến không có pháp bắt đầu và cũng không có pháp cuối cùng, có thật vậy hay không?

    Hoài-nghi phát sinh do 2 nguyên-nhân là:
    1. Ayonisomanasikāra: Si-mê hiểu biết trong tâm không đúng theo thật-tánh của các pháp.
    2. Hoài-nghi nơi Tam-bảo (như trên)

    Hoài-nghi diệt do 2 nguyên-nhân là:
    1. Yonisomanasikāra: Trí-tuệ hiểu biết rõ trong tâm đúng theo thật-tánh của các pháp.
    2. Trí-tuệ hiểu biết rõ các pháp: thiện-pháp, bất-thiện-pháp, pháp nên hành, pháp không nên hành, pháp nên phát triển, pháp nên diệt, v.v…

    6 pháp diệt hoài-nghi là:
    1. Bahussutā: Người nghe nhiều hiểu rộng,
    2. Paripucchakatā: Người hay học hỏi,
    3. Vinaye pakataññtā: Người tinh thông trong tạng Luật,
    4. Adhimokkhabahulatā: Quyết định sáng suốt,
    5. Kalyāṇamittatā: Người có bạn thiện trí tốt,
    6. Sappāyakathā: Nghe lời giáo-huấn để hiểu rõ không còn hoài-nghi nữa.

  3. Giới cấm thủ (sīlabbatupādāna): Chữ sīlabbatupādāna = sīlabbata + upādāna.
    Sīlabbata = sīla + bata: sự giữ theo lệ cúng tế, lễ bái.
    Như vậy, theo nghĩa đen: Sīlabbatupādāna (giới cấm thủ) là “nắm giữ theo những nghi thức cúng tế”.
    Đa phần người trong thế gian có khuynh hướng nghiêng về tha lực, mỗi khi gặp điều hạnh phúc thì cho rằng “do ơn trên ban thưởng”, khi gặp tai họa thì cho rằng “do bề trên trừng phạt”. Họ thường cúng tế “để tạ ơn trên” hoặc van vái, tế lễ để được ơn trên phù hộ được tai qua nạn khỏi...”.
    Trong khi cúng tế, họ thường nghĩ ra những nghi thức kỳ quái, như các giáo sĩ Bàlamôn thì giết sinh vật để tế lễ chư Phạm thiên, các vị thần. Một số nghi thức cúng tế khác thì: rải gạo, muối, đốt vàng mả..
    Đây là hạng chúng sinh không nương vào nhân quả, nghiệp báo, họ chỉ mong cầu tha lực trợ giúp.
    Sở dĩ gọi là tà kiến vì “không tin vào lý nghiệp báo mà tin vào tha lực”, “không tạo thiện nghiệp, chỉ thích thú  trong cầu xin, cúng bái”.

  4. Dục ái (Kāma-rāga):
    kāmarāga = kāma (dục)+ rāga (thích thú)
    Dục ái ngủ ngầm là “sự khao khát thụ hưởng 5 trần cảnh tiềm tàng ở trong tâm”.
    Lẽ thường, chúng sinh chưa chứng đắc được Tam quả hay là bậc Alahán, trong tâm thường tiềm ẩn sự “thích thú hưởng dục lạc”, khi có cơ hội thuận tiện “sự thích thú này” trổi dậy.
    Nói cách khác, phần nhiều chúng sinh “tiềm ẩn sự thích thú hưởng thụ hạnh phúc phát sinh từ các trần cảnh”.

  5. Sân hận (Vyāpāda):
    Byāpāda còn được viết dưới dạng vyāpāda, có nghĩa là “bực tức, ác cảm, ác tâm”.
    Một từ đồng nghĩa khác của byāpāda là paṭigha (phẫn nộ, hiềm hận), vì có tiếp đầu ngữ paṭi làm tăng cường sức mạnh cho dosa (sân hận).
    Một từ khác đồng nghĩa với byāpāda là vera (hận thù).

  6. Sắc ái (Rūpa-rāga):
    Là tâm đắm nhiễm trong các cảnh hay các cõi thiền Sắc giới. Tức là muốn nói đến những đam mê, dính mắc, chấp thủ, trầm mịch trong các trạng thái hỷ, lạc, xả của thiền định. Và chính những sắc ái, vô sắc ái ấy nó tươm rỉ ra phiền não vi tế không dễ gì thấy biết. Xem thêm 7 chi thiền.

  7. Vô sắc ái (Arūpa-rāga):
    Là tâm đắm nhiễm trong các cảnh thiền Vô sắc, hay trong các cõi Vô sắc.
    Vị Thánh Anahàm, tuy không còn tham dục, nhưng vẫn còn ái sắc và ái vô sắc, tức là các Ngài vẫn còn phải luân hồi trong cõi Sắc giới hay Vô sắc giới.
    Hoặc các hành giả tu tiến Chỉ tịnh, chứng đạt các tầng thiền, cảm thấy thích thú trong các thiền cảnh, đó là ái.
    Pāli có giải thích sắc ái và vô sắc ái như sau:
    “Rūpārūpabhava rāgassa ca jhāna nikkantiyā cetaṃ adhāvacanaṃ:
    Dính mắc trong sắc hữu, Vô sắc hữu và thích thú khi đạt đến những tầng thiền.”
    Lại nữa, tham dẫn xuống khổ cảnh, trái lại ái có thể cho tái sanh về nhàn cảnh. Như người thích thú cảnh giới chư thiên, nên tạo phước bố thí, trì giới... để sanh về thiên giới.
    Như vậy, ái mang đến hai cách khổ: Khổ địa vức (là bốn khổ cảnh) và Khổ luân hồi.

  8. Mạn (Māna): Ngã mạn là tự hào điều gì mình hơn người, hoặc có sự so sánh “ta với người”.
    “Ngã mạn ngủ ngầm” là “khuynh hướng tự hào, thường có với chúng sinh, tiềm ẩn trong tâm của chúng sinh.
    Ngài Buddhaghosa trong sách Atthasālinī đưa ra ba cách so sánh đối với 3 hạng người, đó là “cách biểu hiện” của ngã mạn, như sau:
    - Hơn so với hơn; hơn so với bằng và hơn so với thua.
    - Bằng so với hơn, bằng so với bằng và bằng so với thua.
    - Thua so với hơn, thua so với bằng và thua so với thua.
    Bộ Phân tích (vibhaṅga) trong Tạng Thắng pháp có liệt kê những trường hợp tự hào, xin nêu ra vài điều như sau:
    Tự hào về sinh chủng (jāti); tự hào về dòng dõi (gotta); tự hào về sức khỏe (ārogya); tự hào về tuổi trẻ (yobbana); tự hào về đời sống (jīvita); tự hào về lợi lộc (lābha), tự hào về danh tiếng (yasa), tự hào về dung sắc (vaṇṇa), tự hào về tài sản... tự hào về Giới hạnh, tự hào về thiền chứng (jhāna), tự hào về trí lão luyện (rattaññū); tự hào về thần thông.
    Ngã mạn ntiềm ẩn chỉ bị sát tuyệt khi chứng thánh đạo Alahán.

  9. Trạo cử vi tế (Uddhacca):
    Uddhacca là “nắm bắt ở trên”, ám chỉ “trạng thái lơ đãng”, là “trạng thái tâm xao lãng không yên”, ví như chiếc lá rơi không định hướng được điểm rơi, cũng được dịch là “phóng dật”.
    Kinh văn có định nghĩa Phóng dật như sau:
    “Pháp nào là sự tán loạn của tâm, sự không vắng lặng, sự chao động của tâm, sự hỗn loạn của tâm. Đây gọi là phóng dật.
    Trạng thái làm sái quấy, gọi là kukkucca (hối).
    Kukkucca là trạng thái lo âu, ray rứt, bồn chồn của tâm.

  10. Si vi tế (Avijjā):
    Khuynh hướng không biết bốn sự thật luôn tiềm ẩn trong tâm chúng sinh, gọi là vô minh tiềm ẩn.
    Tương tự như hữu ái tiềm ẩn, khởi điểm của Vô minh không tìm thấy, nhưng duyên cho Vô minh sinh khởi và tăng trưởng là “năm pháp chướng ngại (nīvaraṇa)”
    Vô minh là không biết 8 điều:
    1. Không biết sự thật về khổ.
    2. Không biết sự thật nguyên nhân sinh khổ.
    3. Không biết sự thật diệt khổ.
    4. Không biết con đường dẫn đến diệt khổ.
    5. Không biết quá khứ (là không biết nhân).
    6. Không biết vị lai (là không biết quả).
    7. Không biết quá khứ - vị lai (là không biết nhân - quả).
    8. Không biết lý duyên sinh

Tứ Thánh Quả

  1. Bậc Thánh Nhập Lưu (Sotapanna - Tu-đà-hoàn) diệt trừ được ba kiết sử đầu. Nhập Lưu nghĩa là người bước vào dòng dẫn đến Niết bàn. Vị ấy có thể phải trở lại cõi đời này nhưng không quá bảy kiếp, và dù còn tái sanh nhưng chắc chắn vị ấy không sanh vào bốn ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và atula.
  2. Bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmi - Tư-đà-hàm) làm suy yếu thêm hai kiết sử thứ tư và thứ năm. Vị Nhất Lai có thể trở lại cõi dục chỉ một lần nữa mà thôi. (Cõi Dục gồm cõi người và sáu cõi trời dục giới).
  3. Bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī - A-na-hàm) diệt hoàn toàn hai kiết sử thứ tư và thứ năm đã bị Tư Ðà Hàm đạo làm suy yếu trước đây. Vị Bất Lai không còn tái sanh trong Dục giới nữa.
  4. Bậc A-la-hán (Arahatta) đoạn diệt năm kiết sử còn lại. Bậc A-la-hán không bao giờ còn tái sanh trong tam giới.

Tâm trau dồi để tiến hành pháp minh sát niệm chỉ sau khi có trí tuệ đã bén nhọn như hoàng kiếm của Thánh đạo đến mức gọi là “Tu-đà-huờn đạo tuệ” có thắng lực vừa đoạn tuyệt được sử thứ 1, 2, 3 (thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ) nếu chưa chặt đứt được, vì trau dồi chưa đến mực bên Tu-đà-huờn đạo. Quả tâm được thành tựu nhờ đã đào bứng được kiết sử gọi là Tu-đà-huờn quả tuệ, là bậc có danh hiệu “nhập lưu” (sotāpanna) là người đến dòng nước chảy về Niết-bàn, không còn thối chuyển theo thường nhơn nghĩa là sẽ chứng quả A-la-hán trong thời vị lai không sai.
Sự thành công chậm hoặc mau ấy là do căn và duyên phần của mỗi người. Các kiết sử khác, mặc dầu chưa diệt được, cũng có thể làm cho nhẹ nhàng hơn khi còn ở bậc thường nhơn.
Tâm của bậc “nhập lưu” (sotāpanna) đã được sửa trị cao thêm đến mực gọi là “Tư-đà-hàm đạo tuệ” (sakadāgāmaggañāṇa) chặt đứt được kiết sử như bậc nhập lưu, song đã làm cho mấy kiết sử khác được nhẹ nhàng hơn, luôn đến tình dục (ragā), sân hận (dosā), si mê (mohā) phần thô thiển cũng đã giảm sức hơn bậc nhập lưu. Quả tuệ bậc trên kế tiếp gọi là “Tư-đà-hàm quả tuệ” (sakadāmiphala). Bậc này gọi là “nhứt lai” là bậc còn thọ sanh lại làm người một lần nữa.
Tâm của bậc Tư-đà-hàm trau dồi được cao thượng thêm nữa đến mức gọi là “A-na-hàm đạo tuệ” (anāgāmimaggañāṇa) và đào bứng thêm được 2 kiết sử là sử thứ 4, 5 “tình dục” (kāmarāga), uất ức (patigha), cộng lại làm 5 thứ kiết sử hoặc kiết sử bậc hạ (orambhāgiyasaññojana) mà Thánh đạo bậc này đã tận diệt rồi.
Quả tâm phát sanh tiếp tục gọi là A-na-hàm quả tuệ (anāgāmiphalañāṇa). Người chứng được đạo quả bậc này gọi là “bất lai” là bậc không còn thọ sanh làm người trong thế gian này nữa.
 Tâm của bậc A-na-hàm đã tu tập được cao thượng thêm đến mức gọi là “A-la-hán đạo tuệ” (arahattamaggañāṇa) có thể cắt đứt cả 10 sử chẳng còn dư sót. Liên tiếp quả tâm sẽ phát sanh gọi là “A-la-hán quả tuệ” (arahattaphalañāṇa). Bậc được chứng quả gọi là A-la-hán là bậc đã đoạn tuyệt vành, căm của bánh xe luân hồi và được nhập Niết-bàn trong kiếp hiện tại.
Saṁyojanasutta Các Kiết Sử
“Dasayimāni, bhikkhave, saṁyojanāni. Katamāni dasa? —Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười?
Pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni, pañcuddhambhāgiyāni saṁyojanāni. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử.
Katamāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni? Thế nào là năm hạ phần kiết sử?
Sakkāyadiṭṭhi, Thân kiến,
vicikicchā, hoài nghi,
sīlabbataparāmāso, giới cấm thủ,
kāmacchando, dục tham,
byāpādo sân.
—imāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni. Ðây là năm hạ phần kiết sử.
Katamāni pañcuddhambhāgiyāni saṁyojanāni? Thế nào là năm thượng phần kiết sử?
Rūparāgo, Sắc ái,
arūparāgo, vô sắc ái,
māno, mạn,
uddhaccaṁ, trạo cử,
avijjā vô minh.
—imāni pañcuddhambhāgiyāni saṁyojanāni. Ðây là năm thượng phần kiết sử.
Imāni kho, bhikkhave, dasa saṁyojanānī”ti. Này các Tỷ-kheo, đây là mười kiết sử.
Aṅguttara Nikāya 10.13 2. NāthavaggaTăng Chi Kinh (Phần 10 pháp) II. Phẩm Hộ Trì

5 Triền Cái (nīvāraṇa)

Trong quan điểm truyền thống thì Triền Cái được kể có 5 khi nói đến trường hợp ngăn chận thiền định (samādhi).
  1. Dục Cái (kāmachanda): Sự đam mê trong cảnh dục trần. Chi pháp là tâm sở Tham (lobha) trong 8 tâm tham (lobhamūlacitta).

  2. Sân Cái (vyāpāda): Tức tất cả những sự bất mãn của tâm. Chi pháp là tâm sở Sân (dosa) trong 2 tâm sân (dosamūlacitta).

  3. Hôn Thụy Cái (thīnamiddha): Tức sự lười biếng và buồn ngủ. Chi pháp là 2 tâm sở Hôn Trầm (thīna), tâm sở Thụy Miên (middha).

  4. Trạo Hối Cái (uddhaccakukkucca): Tức sự bồn chồn và cắn rứt. Chi pháp là tâm sở Phóng Dật (uddhacca) và tâm sở Hối (kukkucca).

  5. Hoài Nghi Cái (vicikicchā): Sự hoài nghi, thắc mắc hay phân vân lưỡng lự. Chi pháp là tâm sở Hoài Nghi (vicikicchā).



5 chi Thiền



Tầm đối trị Hôn Thùy. Tứ đối trị Hoài nghi. Hỷ đối trị Sân.
Lạc, Xả đối trị Trạo Hối. Định đối trị Tham Dục.


Pañcime, bhikkhave, āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā. Katame pañca? – Có năm chướng ngại triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?
Kāmacchando, bhikkhave, āvaraṇo nīvaraṇo cetaso ajjhāruho paññāya dubbalīkaraṇo. Dục tham, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Byāpādo, bhikkhave, āvaraṇo nīvaraṇo cetaso ajjhāruho paññāya dubbalīkaraṇo. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm làm yếu ớt trí tuệ.
Thinamiddhaṃ, bhikkhave, āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ cetaso ajjhāruhaṃ paññāya dubbalīkaraṇaṃ. Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Uddhaccakukkuccaṃ, bhikkhave, āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ cetaso ajjhāruhaṃ paññāya dubbalīkaraṇaṃ. Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Vicikicchā, bhikkhave, āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā. Nghi, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Ime kho, bhikkhave, pañca āvaraṇā nīvaraṇā cetaso ajjhāruhā paññāya dubbalīkaraṇā. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
AN (5) Nīvaraṇavaggo 1. ĀvaraṇasuttaṃKTC (5) Phẩm Triền cái - Kinh Ngăn Chặn


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de