A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung
www.tudieu.de
  1. Mānacetasika
  2. Sở hữu ngã mạn

Mạn

(māna)


Mānacetasika

Mānacetasika Mạn tâm sở

Pālī định nghĩa như sau:
Seyyoham’asmī’ti ādinā maññatī’ti = māno.
Gọi là māna – mạn bởi vì tự hào rằng “ta hơn người” v.v…

Mạn là lòng tự cao, tự đại, kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường kẻ khác, khoe khoang, tự hào, v.v… Bên cạnh đó trạng thái tự ti, mặc cảm, coi thấp mình cũng là sự biểu hiện của mạn tâm sở.

Sự tự hào này biểu thị qua 2 khía cạnh:
– Đối với bên ngoài: thường tỏ ra kiêu căng, tự đắc, ngã mạn,…
– Đối với bên trong: hãnh diện với điều mình đã làm được, như ngọn cờ phần phật tung bay trước gió.

Bốn tính chất của Mānacetasika – Mạn tâm sở:

  1. Uṇṇatikalakkhaṇo: có đặc tính là tự tôn, tự phụ.
  2. Sampaggaharaso: thúc đẩy các pháp tương ưng làm phận sự.
  3. Ketukamayatāpaccupaṭṭhānno: có quả hiện hữu là đề cao mình như cờ (gặp gió).
  4. Diṭṭhivippayuttalobhapadaṭṭhāno: có nhân gần là lòng tham không kết hợp với tà kiến.

Māna – mạn chia làm 2 loại lớn là:
  1. Ayāthāvamāna: Mạn không đúng với sự thật, được đoạn tận bởi Sotāpattimagga – Nhất lai đạo; có 6 hạng:
    1. Cao hơn mà cho rằng mình bằng người.
    2. Cao hơn mà cho rằng mình thấp hơn.
    3. Bằng người mà cho rằng mình cao hơn.
    4. Bằng người mà cho rằng mình thấp hơn.
    5. Thấp hơn mà cho rằng mình cao hơn.
    6. Thấp hơn mà cho rằng mình bằng người.
  2. Yāthāvamāna: Mạn đúng với sự thật, được đoạn tận bởi Arahattamagga – A la hán đạo; có 3 hạng:
    1. Cao hơn mà cho rằng mình cao hơn.
    2. Bằng người mà cho rằng mình bằng người.
    3. Thấp hơn mà cho rằng mình thấp hơn.
Trong Bộ Vibhaṅga (Phân tích) có liệt kê những hình thức sinh khởi lòng kiêu mạn như sau:

“Kiêu hãnh sinh chủng, kiêu hãnh họ tộc, kiêu hãnh sức mạnh, kiêu hãnh tuổi trẻ, kiêu hãnh đời sống, kiêu hãnh lợi lộc, kiêu hãnh sự kính lễ, kiêu hãnh sự trọng vọng, kiêu hãnh sự tôn vinh, kiêu hãnh về tùy tùng, kiêu hãnh về học vấn, kiêu hãnh về tài sản, kiêu hãnh về biện tài, kiêu hãnh về tuổi thọ, kiêu hãnh về danh tiếng, kiêu hãnh về giới hạnh, kiêu hãnh về thiền chứng, kiêu hãnh về thần thông, kiêu hãnh về nghệ thuật, kiêu hãnh về nghề nghiệp, kiêu hãnh về tài năng, kiêu hãnh về trí tuệ.”

Nói tóm lại, khi nào có sự so sánh giữa ta với người về sinh chủng, dòng tộc, nghề nghiệp, tài trí, v.v… thì lúc đó māna – mạn sẽ phát sinh.

Mānacetasika – Mạn tâm sở chỉ sinh ở các tâm tham căn không hợp với tà kiến, đó là các tham căn tâm thứ 3,4,7 và 8. Tuy nhiên không phải lúc nào các tâm tham căn này cũng kết hợp với mạn tâm sở; bởi vì mạn tâm sở là loại tâm sở bất định (aniyatacetasika) nên nó chỉ sinh khởi trong các tâm tham này khi nào có sự so sánh giữa ta và người sinh khởi mà thôi. Nếu không có sự so sánh này thì các tham căn tâm nói trên chỉ là các tâm tham bình thường không liên quan đến tà kiến hay ngã mạn.

Vi Diệu Pháp Tập Yếu 2 (TK Tường Nhân)


  1. Mānacetasika
  2. Sở hữu ngã mạn


A Tỳ Đàm - Lớp Zoom với Trung

© www.tudieu.de