93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Kuṇḍalakesā ←→ Bhaddakaccānā_Yasodharā

Bhaddākāpilānī

27. Bhaddākāpilāni-apadānaṃ
27. Ký Sự về Bhaddākāpilānī:
882. Padumuttaro nāma jino sabbadhammesu pāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
883. Tadāhu haṃsavatiyaṃ videho nāma nāmato,
seṭṭhi pahūtaratano tassa jāyā ahos’ ahaṃ.
Khi ấy, ở tại Haṃsavatī có người triệu phú tên là Videha có rất nhiều châu báu. Tôi đã là vợ của người ấy.
884. Kadāci so narādiccaṃ upecca saparijjano,
dhammamassosi buddhassa sabbadukkhakkhayāvahaṃ.
Có lần nọ, người ấy cùng nhóm tùy tùng đã đi đến đấng Mặt Trời của nhân loại và đã lắng nghe Giáo Pháp đưa đến sự diệt tận tất cả khổ đau của đức Phật.
885. Sāvakaṃ dhutavādānaṃ aggaṃ kittesi nāyako,
sutvā sattāhikaṃ dānaṃ datvā buddhassa tādino.
Đấng Lãnh Đạo đã ngợi khen vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị thuyết về sự giũ bỏ (pháp đầu-đà). Sau khi lắng nghe, chồng tôi đã cúng dường vật thí đến đức Phật như thế ấy trong bảy ngày.
886. Nipacca sirasā pāde taṃ ṭhānaṃ abhipatthayi,
sa hāsayanto parisaṃ tadā hi narapuṅgavo.
Chồng tôi trong khi làm hội chúng vui vẻ đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã ước nguyện vị thế ấy. Chính vào khi ấy, đấng Cao Quý của loài người ...
887. Seṭṭhino anukampāya imā gāthā abhāsatha:
“Lacchase patthitaṃ ṭhānaṃ nibbuto hohi puttaka.
... vì lòng thương tưởng đến người triệu phú, đã nói những lời kệ này: “Này con trai, ngươi sẽ đạt được vị thế đã ước nguyện rồi ngươi hãy Niết Bàn.
888. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
889. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
kassapo nāma nāmena hessasi satthusāvako.”
(Người nam này) sẽ trở thành nam thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kassapa.”
890. Taṃ sutvā mudito hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ,
mettacitto paricari paccayehi vināyakaṃ.
Nghe được điều ấy, chồng tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái chồng tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
891. Sāsanaṃ jotayitvāna madditvā ca kutitthiye,
veneyye vinayitvā ca nibbuto so sasāvako.
Vị (Phật) ấy đã làm chói sáng Giáo Pháp, đã chế phục các ngoại đạo, đã hướng dẫn những ai đáng được hướng dẫn, rồi đã Niết Bàn cùng các vị Thinh Văn.
892. Nibbute tamhi lokagge pūjanatthāya satthuno,
ñātimitte samānetvā saha tehi akārayi.
Khi đấng Cao Cả của thế gian ấy đã Niết Bàn, nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đạo Sư chồng tôi đã tập hợp các bạn bè thân quyến rồi cùng với những người ấy đã cho xây dựng ...
893. Sattayojanikaṃ thūpaṃ ubbiddhaṃ ratanāmayaṃ,
jalantaṃ sataraṃsīva sālarājaṃva phullitaṃ.
... ngôi bảo tháp làm bằng châu báu cao bảy do-tuần, chói sáng như là trăm ánh hào quang, được mở rộng ra như là hoa Sālā chúa.
894. Sattasatasahassāni pātiyo tattha kārayi,
naḷaggi viya jotantī rataneheva sattahi.
Tại nơi ấy, chồng tôi đã cho thực hiện bảy trăm ngàn chiếc đĩa nhỏ bằng chính bảy loại châu báu, chúng đang chói sáng như là ngọn lửa của cây sậy.
895. Gandhatelena pūretvā dīpānujjālayi tahiṃ,
pūjatthāya mahesissa sabbabhūtānukampino.
Chồng tôi đã cho đổ đầy với dầu thơm rồi đã cho thắp sáng các ngọn đèn tại nơi ấy nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Bi Mẫn của mọi sanh linh.
896. Satta satasahassāni puṇṇakumbhāni kārayi,
rataneheva puṇṇāni pūjatthāya mahesino.
Chồng tôi đã cho thực hiện bảy trăm ngàn chậu đầy đặn được chứa đầy với thuần các loại châu báu nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
897. Majjhe aṭṭhaṭṭhakumbhīnaṃ ussitā kañcanagghiyā,
atirocanti vaṇṇena saradeva divākaro.
Ở giữa của mỗi nhóm tám chậu là những vật giá trị như vàng được chất đống. Chúng sáng rực với màu sắc tợ như ánh mặt trời vào mùa thu
898. Catudvāresu sobhanti toraṇā ratanāmayā,
ussitā phalakā rammā sobhanti ratanāmayā.
Chiếu sáng ở bốn cửa là các vòm cổng làm bằng châu báu. Chiếu sang là những tấm ván xinh xắn làm bằng châu báu được dựng đứng.
899. Virocanti parikkhittā avataṃsā sunimmitā,
ussitāni paṭākāni ratanāni virocare.
Chói sáng là các lẳng hoa khéo tạo ra được đặt vòng quanh. Chói sáng là các cờ xí bằng châu báu được dựng đứng.
900. Surattaṃ sukataṃ cetaṃ cetiyaṃ ratanāmayaṃ,
atirocati vaṇṇena sasañjhova divākaro.
Và ngôi bảo điện làm bằng ngọc quý này khéo được tô màu, khéo được thực hiện, sáng rực với màu sắc tợ như mặt trời vào lúc hoàng hôn.
901. Thūpassa vediyo tisso haritālena pūrayi,
ekaṃ manosilāyekaṃ añjanena ca ekikaṃ.
Ngôi bảo tháp có ba bệ thờ. Chồng tôi đã chất đầy một bệ với đá màu vàng, một bệ với đá màu đỏ, một bệ với đá màu đen.
902. Pūjametādisaṃ rammaṃ kāretvā varavādino,
adāsi dānaṃ saṅghassa yāvajīvaṃ yathābalaṃ.
Sau khi đã cho thực hiện việc cúng dường đáng yêu như thế ấy đến bậc Thuyết Giảng cao quý, chồng tôi đã dâng vật thí đến hội chúng tùy theo năng lực cho đến hết cuộc đời.
903. Sahāhaṃ seṭṭhinā tena tāni puññāni sabbaso,
yāvajīvaṃ karitvāna sahāva sugatiṃ gatā.
Sau khi đã cùng với người triệu phú ấy thực hiện toàn bộ những việc phước báu ấy cho đến hết cuộc đời, tôi đã đi đến cõi an vui cùng với chính người ấy.
904. Sampattiyonubhotvāna devatte atha mānuse,
chāyā viya sarīrena saha teneva saṃsariṃ.
Sau khi đã thọ hưởng sự thành công ở bản thể chư thiên rồi nhân loại, tôi đã luân hồi cùng với chính người ấy như là hình bóng với xác thân vậy.
905. Ekanavute ito kappe vipassī nāma nāyako,
uppajji cārunayano sabbadhammavipassako.
Trước đây chín mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, vị có ánh mắt thu hút, vị thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi
906. Tadā ’yaṃ bandhumatiyaṃ brāhmaṇo sādhusammato,
aḍḍho satthāgamen’ āsi dhanena ca suduggato.
Khi ấy ở tại Bandhumatī, người này là vị Bà-la-môn được xem là thánh thiện, giàu có nhờ vào sự đạt được kiến thức, và đã bị lâm vào cảnh vô cùng khó khăn về tài sản.
907. Tadāpi tass’ ahaṃ āsiṃ brahmaṇī samacetasā,
kadāci so dijavaro saṃgamesi mahāmuniṃ.
Cũng vào khi ấy, với tâm ý tương đồng tôi đã là nữ Bà-la-môn của người ấy. Có lần, người Bà-la-môn cao quý ấy đã đi đến bậc Đại Hiền Triết.
908. Nisinnaṃ janakāyasmiṃ desentaṃ amataṃ padaṃ,
sutvā dhammaṃ pamudito adāsi ekasāṭakaṃ.
(Đức Phật) ngồi ở đám người đang thuyết giảng về đạo lộ Bất Tử. Sau khi nghe Pháp, được hoan hỷ người ấy đã cúng dường một tấm vải choàng.
909. Gharamekena vatthenāganvānetaṃ mamabravi,
anumoda mahāpuññe dinnaṃ buddhassa sāṭakaṃ.
Quay về lại nhà với một mảnh vải, người ấy đã nói với tôi điều này: “Nàng hãy tùy hỷ việc phước lớn lao; tấm vải choàng đã được dâng đến đức Phật.”
910. Tadā ’haṃ añjaliṃ katvā anumodiṃ supīṇitā,
sudinno sāṭako sāmi buddhaseṭṭhassa tādino.
Khi ấy, hài lòng xiết bao tôi đã chắp tay lên nói lời tùy hỷ rằng: “Phu quân à, tấm vải choàng là đã khéo được dâng đến đức Phật tối thượng như thế ấy.”
911. Sukhito sajjito hutvā saṃsaranto bhavābhāvo,
bārāṇasipure ramme rājā āsi mahīpati.
Được an vui, trở nên gắn bó, trong khi luân hồi cõi này cõi khác, người ấy đã trở thành đức vua, vị chủ tể trái đất ở thành phố Bārāṇasī đáng yêu.
912. Tadā tassa mahesīhaṃ itthigumbassa uttamā,
tassātidayitā āsiṃ pubbasnehena bhattuno.
Khi ấy, tôi trở thành chánh hậu của người ấy, là tối cao trong đám nữ nhân. Tôi đã được cảm tình rất mực của người ấy do sự yêu mến trước đây của chồng.
913. Piṇḍāya vicarante so aṭṭha paccekanāyake,
disvā pamudito hutvā datvā piṇḍaṃ mahārahaṃ.
Sau khi nhìn thấy tám vị Lãnh Đạo Độc Giác đang đi quanh để khất thực, vị ấy đã trở nên hoan hỷ và đã dâng thức ăn vô cùng giá trị.
914. Puno nimantayitvāna katvā ratanamaṇḍapaṃ,
kammārehi kataṃ chattaṃ sovaṇṇaṃ satahatthakaṃ.
Sau khi thỉnh mời lần nữa, vị ấy đã thực hiện mái che bằng châu báu. Lọng che bằng vàng (rộng) trăm cánh tay đã được những người thợ rèn kiến thiết.
915. Samānetvāna te sabbe tesaṃ dānamadāsi so,
soṇṇāsanopaviṭṭhānaṃ pasanno sehi pāṇihi.
Sau khi đã hướng dẫn tất cả các ngài ấy tiến vào các chỗ ngồi bằng vàng, được tịnh tín vị ấy đã dâng cúng vật thí đến các ngài ấy bằng hai bàn tay của mình.
916. Tampi dānaṃ sah’ ādāsiṃ kāsirājen’ ahaṃ tadā,
punāhaṃ bārāṇasiyaṃ ajāyiṃ dvāragāmake.
Khi ấy, tôi cũng đã dâng cúng vật thí ấy cùng với đức vua xứ Kāsi. Tôi đã được sanh ra ở Bārāṇasī lần nữa, tại ngôi làng nhỏ ngoại thành.
917. Kuṭumbikakule phīte sukhito so sabhātuko,
jeṭṭhassa bhātuno jāyā ahosiṃ supatibbatā.
(Sanh ra) ở trong gia đình giàu có thịnh vượng, người ấy được an lạc, có em trai. Tôi đã là người vợ vô cùng chung thủy của người anh cả.
918. Paccekabuddhaṃ disvāna mama bhattukanīyasī,
bhāgannaṃ tassa datvāna āgate tamhi pāvadi.
Sau khi nhìn thấy vị Phật Độc Giác, người em gái của chồng tôi đã dâng phần cơm đến vị ấy, rồi khi chồng tôi đi đến đã thuật lại.
919. Nābhinandittha so dānaṃ tato tassa adās’ ahaṃ,
ūkhā āniya taṃ annaṃ puno tasseva so adā.
Chồng tôi không hoan hỷ với việc cúng dường. Do đó, tôi đã lấy lại phần cơm ấy từ bình bát rồi đã trao cho chồng. Chồng tôi đã cúng dường (phần cơm ấy) một lần nữa đến chính vị Phật ấy.
920. Tadannaṃ chaḍḍhayitvāna duṭṭhā buddhass’ ahaṃ tadā,
pattaṃ kalalapuṇṇaṃ taṃ adāsiṃ tassa tādino.
Khi ấy, tôi đã quăng bỏ đi phần cơm ấy và đã độc ác đối với đức Phật. Tôi đã dâng bình bát ấy chứa đầy bùn đến vị Phật như thế ấy.
921. Dāne ca gahaṇe ceva amejjhe padume yathā,
samacittamukhaṃ disvā tadāhaṃ saṃvijiṃ bhusaṃ.
Về vật cho cũng như việc nhận giống như là vật không trong sạch và đóa hoa sen, khi ấy tôi đã nhìn khuôn mặt có tâm bình thản và đã vô cùng chấn động.
922. Puno pattaṃ gahetvāna sodhayitvā sugandhinā,
pasannacittā pūretvā saghataṃ sakkharaṃ adaṃ.
Sau khi nhận lại bình bát, tôi đã làm sạch bằng chất thơm, rồi với tâm tịnh tín, tôi đã chứa đầy với bơ lỏng và đã dâng lên một cách cung kính.
923. Yattha yatthūpapajjāmi surūpā homi dānato,
buddhassa apakārena duggandhā vadanena ca.
Ở bất cứ nơi đâu tôi được sanh ra, tôi đều có sắc xinh đẹp do sự bố thí và có mùi hôi do lời nói và do thái độ không phải phép đối với đức Phật.
924. Puna kassapavīrassa niṭṭhāyantamhi cetiye,
sovaṇṇa-iṭṭhakavaraṃ adāsiṃ muditā ahaṃ.
Lần khác, khi ngôi bảo điện của đấng Chiến Thắng Kassapa đang được hoàn tất, được hoan hỷ tôi đã cúng dường phiến ngói cao quý bằng vàng.
925. Catujjātena gandhena nicayitvā tamiṭṭhakaṃ,
muttā duggandhadosamhā sabbaṅgasusamāgatā.
Tôi đã tẩm phiến ngói ấy bằng hương thơm sanh lên từ bốn nguồn. Tôi đã được thoát khỏi khuyết điểm về mùi hôi thối và đã được thành tựu tốt đẹp về toàn bộ các phần thân thể.
926. Sattapātisahassāni rataneheva sattahi,
kāretvā ghatapūrāni vaṭṭiyo ca sahassaso.
(Chồng tôi) đã cho thực hiện bảy ngàn cái đĩa bằng chính bảy loại châu báu chứa đầy bơ lỏng và hàng ngàn tim đèn.
927. Pakkhipitvā padīpetvā ṭhapayī sattapantiyo,
pūjatthaṃ lokanāthassa vippasannena cetasā.
Với tâm ý thanh tịnh, sau khi đã đặt (tim đèn) vào và thắp sáng, vị ấy đã xếp thành bảy hàng nhằm mục đích cúng dường đến bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
928. Tadāpi tamhi puññamhi bhāginī ’haṃ visesato,
puna kāsisu sañjāto sumitto iti vissuto.
Khi ấy, tôi cũng có phần đóng góp đặc biệt trong việc phước thiện ấy. Vị ấy đã được sanh ra ở xứ Kāsi lần nữa, được nổi danh là Sumitta.
929. Tassāhaṃ bhariyā āsiṃ sukhitā sajjitā piyā,
tadāpi paccekamunino adāsi ghanaveṭhanaṃ.
Tôi đã là vợ của người ấy, được an vui, được gắn bó, được yêu quý. Khi ấy, người ấy cũng đã dâng đến vị Hiền Triết Độc Giác tấm vải choàng bền chắc.
930. Tassāpi bhāginī āsiṃ moditvā dānamuttamaṃ,
punāpi kāsiraṭṭhamhi jāto koliyajātiyā.
Tôi đã hoan hỷ về việc bố thí tối thượng và cũng đã có phần trong việc ấy. Vị ấy cũng đã sanh ra lần nữa trong quốc độ Kāsi thuộc dòng dõi Koliya.
931. Tadā koliyaputtānaṃ satehi saha pañcahi,
pañca paccekabuddhānaṃ satāni samupaṭṭhahi.
Khi ấy, cùng với năm trăm người con trai dòng Koliya, vị ấy đã hộ độ năm trăm vị Phật Độc Giác.
932. Temāsaṃ tappayitvāna adāsi ca ticīvaraṃ,
jāyā tassa tadā āsiṃ puññakammapathānugā.
Và sau khi đã làm hài lòng (chư Phật Độc Giác) trong ba tháng, vị ấy đã dâng ba y. Khi ấy, đi theo lộ trình của nghiệp phước thiện tôi đã là vợ của vị ấy.
933. Tato cuto ahu rājā nando nāma mahāyaso,
tassāpi mahesī āsiṃ sabbakāmasamiddhinī.
Từ nơi ấy chết đi, vị ấy đã trở thành vị vua tên là Nanda có danh tiếng vĩ đại. Tôi cũng đã trở thành chánh hậu của vị ấy, có sự thành tựu về tất cả các điều dục lạc.
934. Tadā ca so bhavitvāna brahmadatto mahīpati,
padumavatīputtānaṃ paccekamuninaṃ tadā.
Và khi ấy, vị ấy đã trở thành vị chúa tể Brahmadatta. Khi ấy, đối với các bậc Hiền Triết Độc Giác con trai của bà Padumavatī, ...
935. Satāni pañc’ anūnāni yāvajīvaṃ upaṭṭhahi,
rājuyyāne nivāsetvā nibbutāni ca pūjayi.
... vị ấy đã hộ độ năm trăm vị không thiếu vị nào cho đến hết cuộc đời. Chư Phật Độc Giác đã cư ngụ tại vườn hoa của đức vua rồi đã Niết Bàn, và vị ấy đã tôn vinh.
936. Cetiyāni ca kāretvā pabbajitvā ubho mayaṃ,
bhāvetvā appamaññāyo brahmalokaṃ aggamhase.
Và sau khi cho xây dựng các ngôi bảo điện, cả hai chúng tôi đã xuất gia. Sau khi tu tập các vô lượng (tâm), chúng tôi đã đi đến cõi Phạm Thiên.
937. Tato cuto mahātitthe sujāto pipphalāyano,
mātā sumanadevīti kosiyagotto dijo pitā.
Từ nơi ấy chết đi, người ấy đã được sanh ra tại Mahātittha là Pipphalāyana. Mẹ là Sumanadevī, cha là người Bà-la-môn dòng tộc Kosiya.
938. Ahaṃ maddajanapade sāgalāyaṃ puruttame,
kapilassa dijass’ āsiṃ dhītā mātā sucīmatī.
Tôi đã là người con gái của vị Bà-la-môn Kapila, mẹ là Sucīmatī, tại kinh thành Sāgalā trong xứ sở Madda.
939. Ghanakañcanabimbena nimmiṇitvāna maṃ pitā,
adā kassapadhīrassa kāmāsāvajjitassa maṃ.
Sau khi tạo ra tôi với hình tượng bằng vàng khối, người cha đã gã tôi cho bậc trí Kassapa là người đã kiêng cử các dục.
940. Kadāci so kāruṇiko gantvā kammantapekkhanaṃ,
kākādikehi khajjante pāṇe disvāna saṃviji.
Vào lúc nọ, vị có lòng bi mẫn ấy đã đi xem xét công việc làm. Sau khi nhìn thấy các sinh vật bị những loài như là quạ, v.v... ăn thịt, vị ấy đã bị chấn động.
941. Ghare cāhaṃ tile jāte disvānātapatāpane,
kimi kākehi khajjante saṃvegamalabhiṃ tadā.
Và tôi ở nhà, sau khi nhìn thấy những cây mè mọc lên trong sự thiêu đốt của ánh nắng mặt trời và loài sâu bọ bị các con quạ ăn thịt, khi ấy tôi đã có sự động tâm.
942. Tadā so pabbajī dhīro ahaṃ tamanupabbajiṃ,
pañca vassāni nivasiṃ paribbājavate ahaṃ.
Khi ấy, con người sáng suốt ấy đã xuất gia. Tôi đã xuất gia theo vị ấy. Tôi đã sống theo hạnh du sĩ ngoại đạo trong năm năm.
943. Yadā pabbajitā āsi gotamī jinaposikā,
tadā ’haṃ tamupāgantvā buddhena anusāsitā.
Đến khi bà Gotamī người nuôi dưỡng đấng Chiến Thắng đã được xuất gia, khi ấy tôi đã đi theo bà ấy và đã được chỉ dạy bởi đức Phật.
944. Na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ,
aho kalyāṇamittattaṃ kassapassa sirīmato.
Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Ôi, tính chất bạn hữu tốt lành đối với vị Kassapa vinh quang!
945. Suto buddhassa dāyādo kassapo susamāhito,
pubbe nivāsaṃ yo vedi saggāpāyañca passati.
Kassapa là con trai, là người thừa tự của đức Phật, khéo được định tĩnh, nhìn thấy được cõi trời và địa ngục, và là vị đã biết được đời sống trước đây.
946. Atho jātikkhayaṃ patto abhiññāvosito muni,
etāhi tīhi vijjāhi tevijjo hoti brāhmaṇo.
Rồi (vị ấy) đã đạt đến sự diệt tận của sự sanh, là vị hiền triết được hoàn hảo về thắng trí, với ba sự hiểu biết ấy trở thành vị Bà-la-môn có tam minh.
947. Tatheva bhaddā kāpilānī tevijjā maccuhāyinī,
dhāreti antimaṃ dehaṃ jetvā māraṃ savāhiniṃ.
Tương tợ như thế ấy, Bhaddā Kāpilānī là vị ni có tam minh, có sự dứt bỏ Tử Thần, mang thân mạng cuối cùng sau khi đã chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
948. Disvā ādīnavaṃ loke ubho pabbajitā mayaṃ,
tyamhā khīṇāsavā dantā sītibhūtāmha nibbutā.
Sau khi nhìn thấy điều tai hại ở thế gian, cả hai chúng tôi đã xuất gia. Chúng tôi đây có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được huấn luyện, đã có được trạng thái mát mẻ, Niết Bàn.
949. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
950. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
951. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Bhaddākāpilānī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Bhaddākāpilānī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bhaddākāpilānitheriyāpadānaṃ sattamaṃ.
Ký sự về trưởng lão ni Bhaddākāpilānī là phần thứ bảy.


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com