93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Paṭācārā ←→ Nandā

Dhammadinnā

23. Dhammadinnāpadānaṃ
23. Ký Sự về Dhammadinnā:
733. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
734. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ kule aññatare ahuṃ,
parakammakarī āsiṃ nipakā sīlasaṃvutā.
Khi ấy, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṃsavatī. Tôi đã là người nữ làm thuê khéo léo, gìn giữ tánh hạnh.
735. Padumuttarabuddhassa sujāto aggasāvako,
vihārā abhinikkhamma piṇḍapātāya gacchati.
Sujāta, vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật Padumuttara, đã rời khỏi trú xá đi khất thực.
736. Ghaṭaṃ gahetvā gacchantī tadā udakahārikā,
taṃ disvā adadiṃ pūvaṃ pasannā sehi pāṇihi.
Là người nữ đội nước, khi ấy trong lúc cầm lấy bầu nước đang đi, tôi đã nhìn thấy vị ấy, được tịnh tín, tôi đã dâng (vị ấy) món bánh ngọt bằng hai bàn tay của mình.
737. Paṭiggahetvā tattheva nisinno paribhuñji so,
tato netvāna taṃ gehaṃ adāsiṃ tassa bhojanaṃ.
Sau khi thọ lãnh, vị ấy đã ngồi xuống ngay tại nơi ấy và đã thọ dụng. Sau đó, tôi đã đưa vị ấy về nhà và đã dâng vật thực đến vị ấy.
738. Tato me ayyako tuṭṭho akarī suṇisaṃ sakaṃ,
sassuyā saha gantvāna sambuddhaṃ abhivādayiṃ.
Do đó, người chủ của tôi hoan hỷ đã nhận làm con dâu của mình. Tôi đã cùng với người mẹ chồng đi đến và đã đảnh lễ bậc Toàn Giác.
739. Tadā so dhammakathikaṃ bhikkhuniṃ parikittayaṃ,
ṭhapesi etadaggasmiṃ taṃ sutvā muditā ahaṃ.
Khi ấy, Ngài đã tán dương và đã thiết lập vị tỳ khưu ni là vị thuyết giảng Giáo Pháp vào vị thế tối thắng. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã vui mừng.
740. Nimantayitvā sugataṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ,
mahādānaṃ daditvāna taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.
Tôi đã thỉnh mời đức Thiện Thệ đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, rồi đã cúng dường đại thí và đã ước nguyện vị thế ấy.
741. Tato maṃ sugato āha ghananinnādasussaro,
“Mamupaṭṭhānanirate sasaṅghaṃ parivesike.
742. Saddhammasavaṇe yutte guṇavaḍḍhitamānase,
bhadde bhavassu muditā lacchase paṇidhīphalaṃ.
Do đó, với giọng có âm điệu đều đều vang vang, đấng Thiện Thệ đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, là người dâng vật thực, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ý được tăng trưởng về đức hạnh, con hãy vui mừng, con sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước.
743. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
744. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
dhammadinnāti nāmena hessasi satthusāvikā.”
(Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”
745. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ mahāmuniṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.
Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
746. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
747. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
748. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
749. Chaṭṭhā tassāsahaṃ dhītā sudhammā iti vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đã là người con gái thứ sáu của vị (vua) ấy được nổi danh là Sudhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
750. Nānujānāsi maṃ tāto agāren’ ālayā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đã không cho phép chúng tôi. Có sự ấp ủ về việc không gia đình, chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
Bhāṇavāraṃ tatiyaṃ.
Tụng Phẩm thứ ba.
751. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhūpaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
752. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
753. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
gotamī ca ahaṃ ceva visākhā hoti sattamī.
Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, tôi, và luôn cả Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
754. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
755. Pacchime ca bhavedāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte sabbakāmasamiddhake.
Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc.
756. Yadā rūpaguṇopetā paṭhame yobbane ṭhitā,
tadā parakulaṃ gantvā vasiṃ sukhasamappitā.
Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh, ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy tôi đã đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đã sống thọ hưởng lạc thú.
757. Upetvā lokasaraṇaṃ suṇitvā dhammadesanaṃ,
anāgāmiphalaṃ patto sāmiko me subuddhimā.
Sau khi đi đến đấng Nương Nhờ của thế gian và đã lắng nghe lời thuyết Pháp, chồng của tôi đã đạt đến quả vị Bất Lai, có trí giác ngộ hoàn hảo.
758. Tadā taṃ anujānetvā pabbajiṃ anagāriyaṃ,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.
Khi ấy, tôi đã thuyết phục vị ấy rồi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình. Trong thời gian không bao lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
759. Tadā upāsako so maṃ upagantvā apucchatha,
gambhīre nipuṇe paññe te sabbe vyākariṃ ahaṃ.
Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy đã đi đến tôi và đã hỏi về các tuệ thâm sâu và hoàn hảo. Tôi đã giảng giải về tất cả các điều ấy.[3]
760. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ,
bhikkhuniṃ dhammakathikaṃ nāññaṃ passāmi edisaṃ.
Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Ta không nhìn thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni này.
761. Dhammadinnā yathā dhīrā evaṃ dhāretha bhikkhavo,
evāhaṃ paṇḍitā jātā nāyakenānukampitā.
Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí như thế nào thì các ngươi hãy ghi nhớ như thế.” Được đấng Lãnh Đạo thương xót, tôi đã trở thành vị ni thông thái như thế.
762. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
763. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.
Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
764. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthu sāsanakārikā.
Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
765. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāmhi sunimmalā.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
766. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
767. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
768. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Dhammadinnā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Dhammadinnā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Dhammadinnātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.
Ký sự về trưởng lão ni Dhammadinnā là phần thứ ba.


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com