22. Ký Sự về Kisāgotamī: 693. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū, ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako. Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi. 694. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā aññatare kule, upetvā taṃ naravaraṃ saraṇaṃ samupāgamiṃ. Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở một gia đình nọ trong (thành) Haṃsavatī. Tôi đã đi đến và đã nương nhờ vào bậc Quý Nhân ấy. 695. Dhammañca tassa assosiṃ catusaccūpasaṃhitaṃ, madhuraṃ paramassādaṃ vaṭṭasantisukhāvahaṃ. Và tôi đã lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào của vị ấy, bao gồm bốn Sự Thật, có phẩm vị tối thắng, đưa đến sự an lạc và tịnh lặng của vòng luân hồi. 696. Tadā ca bhikkhuniṃ vīro lūkhacīvaradhāriniṃ, ṭhapento etadaggamhi vaṇṇayī purisuttamo. Và khi ấy, trong khi thiết lập vị tỳ khưu ni mặc y thô vào vị thế tối thắng, bậc Anh Hùng, đấng Tối Thượng Nhân đã khen ngợi. 697. Janetvānappakaṃ pītiṃ sutvā bhikkhuṇiyā guṇaṃ, kāraṃ katvāna buddhassa yathāsattī yathābalaṃ. Sau khi đã làm sanh lên niềm phỉ lạc không nhỏ nhoi, sau khi lắng nghe đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đã làm công việc phục vụ đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực. 698. Nipacca munivīraṃ taṃ taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ, tadānumodi sambuddho ṭhānalābhāya nāyako. Tôi đã cúi xuống ở bậc Hiền Triết Anh Hùng ấy và đã ước nguyện vị thế ấy. Khi ấy, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo đã nói lời tùy hỷ về sự lợi ích của vị thế (ấy): 699. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo, gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati. “Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. 700. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā, gotamī nāma nāmena hessasi satthusāvikā.” (Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Gotamī.” 701. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ, mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ. Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời. 702. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 703. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso, kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo. Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên. 704. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro, kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame. Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ. 705. Pañcamī tassa dhīt’ āsiṃ dhammā nāmena vissutā, dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ. Tôi đã là người con gái thứ năm của vị (vua) ấy được nổi danh với tên là Dhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia. 706. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ, vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi. 707. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā, buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro. Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật. 708. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā, dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā. Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy. 709. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā, ahaṃ ceva dhammadinnā visākhā hoti sattamī. Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, tôi, luôn cả Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại). 710. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ. Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 711. Pacchime ca bhavedāni jātā seṭṭhikule ahaṃ, duggate adhane naṭṭhe gatā ca sadhanaṃ kulaṃ. Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra trong gia đình triệu phú bị lâm cảnh khốn cùng, không tài sản, bị khánh tận, và tôi đã được gả vào gia đình có tài sản. 712. Patiṃ ṭhapetvā sesā disanti adhanā iti, yadā ca sasutā āsiṃ sabbesaṃ dayitā tadā. Ngoại trừ người chồng, những người còn lại giễu là “Nữ nhân không tài sản.” Và đến khi tôi đã có con trai, khi ấy tôi đã được cảm tình của tất cả. 713. Yadā so taruṇo bhadro komalaṅgo sukhedhito, sapāṇamiva kanto me tadā yamavasaṃ gato. Vào lúc đứa bé trai hiền hậu ấy, có cơ thể mềm mại, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được yêu quý như chính mạng sống của tôi đã đi đến cõi Dạ Ma. 714. Sokaṭṭā dīnavadanā assunettā rudammukhā, mataṃ kuṇapamādāya vilapantī bhamāmahaṃ. Bị dằn vặt bởi sầu muộn, có vẻ mặt thê lương, mắt đẫm lệ, miệng khóc than, tôi đã bồng ẳm thi thể đã chết, trong lúc than vãn tôi đã đi lang thang. 715. Tadā ekena sandiṭṭhā upetvā bhisajuttamaṃ, avocaṃ “dehi bhesajjaṃ puttasañjīvananti bho.” Khi ấy, nhận thức một chiều, tôi đã đi đến vị Đệ Nhất Lương Y và đã nói rằng: “Thưa ông, xin ông hãy cho thuổc đem lại sự sống cho con tôi.” 716. “Na vijjante matā yasmiṃ gehe siddhatthakaṃ tato, āharā”ti jino āha vinayopāyakovido. Đấng Chiến Thắng, bậc rành rẽ về phương thức huấn luyện, đã nói rằng: “Những người chết không được tìm thấy ở tại ngôi nhà nào thì nàng hãy mang lại hạt cải từ nơi (ngôi nhà) ấy.” 717. Tadā gamitvā sāvatthiyaṃ na labhiṃ tādisaṃ gharaṃ, kuto siddhatthakaṃ kasmā tato laddhā satiṃ ahaṃ. Khi ấy, tôi đã đi ở trong thành Sāvatthī, và đã không đạt được ngôi nhà như thế ấy. Do đó, tôi đã đạt được trí nhớ rằng: “Hạt cải ở đâu, từ nơi đâu?” 718. Kuṇapaṃ chaḍḍayitvāna upesiṃ lokanāyakaṃ, dūratova mamaṃ disvā avoca madhurassaro. Sau khi đã quăng bỏ thây chết, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi nhìn thấy tôi từ rất xa, vị có âm giọng ngọt ngào đã nói rằng: 719. “Yo ca vassasataṃ jīve apassaṃ udayabbayaṃ, ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo passato udayabbayaṃ. “Và người nào đã sống trăm năm không nhìn thấy sự sanh diệt, cuộc sống một ngày là tốt hơn đối với người đang nhìn thấy sự sanh diệt.[2] 720. Na gāmadhammo no nigamassa dhammo nacāpayaṃ ekakulassa dhammo, sabbassa lokassa sadevakassa esova dhammo yadidaṃ aniccatā.” Không phải là quy luật thuộc về ngôi làng, không phải là quy luật thuộc về phố chợ, quy luật này cũng không phải thuộc về một gia đình, mà thuộc về tất cả thế gian luôn cả chư thiên; quy luật ấy đấy tức là tính chất vô thường.” 721. Sāhaṃ sutvānimā gāthā dhammacakkhuṃ visodhayiṃ, tato viññātasaddhammā pabbajiṃ anagāriyaṃ. Sau khi lắng nghe lời kệ này, tôi đây đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình. 722. Tathā pabbajitā santī yuñjantī jinasāsane, na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ. Đã được xuất gia như thế, có sự thanh tịnh, trong khi gắn bó vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. 723. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā, paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā. Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác. 724. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhuṃ visodhitaṃ, khepetvā āsave sabbe visuddhāsiṃ sunimmalā. Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm. 725. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ, ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā. Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan. 726. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ, so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo. Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến. 727. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca, ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa vāhasā. Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng. 728. Saṅkārakūṭā āhatvā susānā rathiyāpi ca, tato saṅghāṭikaṃ katvā lūkhaṃ dhāremi cīvaraṃ. Sau khi mang về từ đống rác, từ mộ địa, và thậm chí từ đường lộ, từ đó tôi đã thực hiện y hai lớp và đã mặc y thô. 729. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho lūkhacīvaradhāraṇe, ṭhapesi etadaggamhi parisāsu vināyako. Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập (tôi) vào vị thế tối thắng trong việc mặc y thô. 730. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. 731. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 732. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. Itthaṃ sudaṃ Kisāgotamī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti. Tỳ khưu ni Kisāgotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. Kisāgotamītheriyāpadānaṃ dutiyaṃ. Ký sự về trưởng lão ni Kisāgotamī là phần thứ nhì. | ||||