93 Đại Đệ Tử Đức Phật

Mahāpajāpatigotamī ←→ Uppalavaṇṇā

Khemā

18. Khemāpadānaṃ
18. Ký Sự về Khemā:
416. Padumuttaranāmajino sabbadhammesu cakkhumā,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
417. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ,
nānāratanapajjote mahāsukhasamappitā.
Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số châu báu, tôi đã được thừa hưởng lạc thú lớn lao.
418. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ,
tato jātappasādā ’haṃ upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ.
Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
419. Mātaraṃ pitaraṃ cāpi āyācitvā vināyakaṃ,
nimantayitvā sattāhaṃ bhojayiṃ sahasāvakaṃ.
Và tôi cũng đã yêu cầu mẹ cha rồi đã thỉnh mời đấng Hướng Đạo cùng với các vị Thinh Văn và đã cung ứng vật thực trong bảy ngày.
420. Atikkante ca sattāhe mahāpaññānamuttamaṃ,
bhikkhuniṃ etadaggamhi ṭhapesi narasārathi.
Và khi bảy ngày đã trôi qua, đấng Điều Ngự Trượng Phu đã thiết lập vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có đại trí tuệ vào vị thế tối thắng.
421. Taṃ sutvā muditā hutvā puno tassa mahesino,
kāraṃ katvāna taṃ ṭhānaṃ paṇipacca paṇidahiṃ.
Sau khi được nghe điều ấy, trở nên hoan hỷ, tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Ẩn Sĩ ấy lần nữa rồi đã nằm dài xuống và đã phát nguyện vị thế ấy.
422. Tato maṃ sa jino āha “Sijjhataṃ paṇidhi tava,
sasaṅghe me kataṃ kāraṃ appameyyaphalaṃ tayā.
Do đó, đấng Chiến Thắng ấy đã nói với tôi rằng: “Điều phát nguyện của nàng (sẽ) được thành tựu. Sự tôn kính đã được nàng thực hiện ở nơi Ta cùng với hội chúng là có quả báu vô lượng.
423. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
424. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
ekadaggaṃ anuppattā khemā nāma bhavissasi.”
(Người nữ này) sẽ có tên là Khemā, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, được đạt đến vị trí hạng nhất.
425. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsūpagā ahaṃ.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
426. Tato cutā yāmamagaṃ tato ’haṃ tusitaṃ gatā,
tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato.
Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
427. Yattha yatthūppajjāmi tassa kammassa vāhasā,
tattha tattheva rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.
Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
428. Tato cutā manussatte rājūnaṃ cakkavattīnaṃ,
maṇḍalīnañca rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.
Từ nơi ấy chết đi (sanh) vào thân nhân loại, tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị Chuyển Luân Vương và các vị vua cai quản các lãnh thổ.
429. Sampattiṃ anubhotvāna dese manujesu ca,
sabbattha sukhitā hutvā nekakappesu saṃsiriṃ.
Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư thiên và loài người, đã được an vui ở tất cả các nơi, và đã luân hồi trong nhiều kiếp.
430. Ekanavute ito kappe vipassī lokanāyako,
uppajji cārunayano sabbadhammavipassako.
Trước đây chín mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, vị thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi.
431. Tamahaṃ lokanāyakaṃ upetvā narasārathiṃ,
dhammaṃ paṇītaṃ sutvāna pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Tôi đã đi đến gặp vị Lãnh Đạo thế gian, đấng Điều Ngự Trượng Phu ấy. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp cao quý, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình.
432. Dasavassasahassāni tassa vīrassa sāsane,
brahmacariyaṃ caritvāna yuttayogā bahussutā.
Sau khi thực hành Phạm hạnh trong Giáo Pháp của đấng Anh Hùng ấy mười ngàn năm, tôi đã gắn bó vào thiền tập, có sự nghe nhiều (học rộng).
433. Paccayākārakusalā catusaccavisāradā,
nipuṇā cittakathikā satthusāsanakārikā.
Là vị thiện xảo về các biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi), có niềm tự tín ở bốn Sự Thật, khôn khéo là vị thuyết giảng hay, là người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư.
434. Tato cutāhaṃ tusitaṃ upapannā yasassinī,
abhibhosiṃ tahiṃ aññe brahmacariyaphalen’ ahaṃ.
Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất, là tiên nữ có danh tiếng. Tại nơi ấy, tôi đã vượt trội những người khác nhờ vào quả báu của việc hành Phạm hạnh.
435. Yattha yatthūpapannāhaṃ mahābhogā mahaddhanā,
medhāvinī rūpavatī vinītaparisā’pi ca.
Ở bất cứ nơi nào tôi được sanh ra, tôi đều có nhiều của cải, nhiều tài sản, là người có sự thông minh, có sắc đẹp, và có luôn cả hội chúng đã được rèn luyện nữa.
436. Bhavāmi tena kammena yogena jinasāsane,
sabbā sampattiyo mayhaṃ sulabhā manaso piyā.
Do nghiệp ấy có sự gắn bó với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, tất cả các sự thành tựu của tôi đều đạt được dễ dàng và tôi có sự thích thú ở trong tâm.
437. Yopi me bhavate bhattā yattha yattha gatāyapi,
vimāneti na maṃ koci paṭipattiphalena me.
Thậm chí ở bất cứ nơi đâu tôi sanh đến, tôi cũng đều có chồng (và) không có người nào khinh miệt tôi nhờ vào quả báu tu tập của tôi.
438. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
nāmena koṇāgamano uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Koṇāgamana, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
439. Tadāhaṃ bārāṇasiyaṃ susamiddhakulappajā,
dhanañjāni sumedhā ca ahampi ca tayo janā.
Khi ấy, tôi là hậu duệ của một gia đình vô cùng giàu có ở tại Bārāṇasī. Dhanañjāni, Sumedhā, và tôi nữa là ba người.
440. Saṅghārāmamadāsimha dānasahāyikā pure,
saṅghassa ca vihārampi uddissa kārikā mayaṃ.
Là những người cộng sự trong việc bố thí trước đây và là những người tạo lập, chúng tôi đã xác định trú xá là của hội chúng rồi đã cúng dường tu viện đến hội chúng .
441. Tato cutā mayaṃ sabbā tāvatiṃsūpagā ahuṃ,
yasasā aggataṃ pattā manussesu tatheva ca.
Từ nơi ấy chết đi, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi Đạo Lợi, đã đạt được tư cách cao tột về danh vọng, và tương tợ y như thế ở giữa loài người.
442. Imasmiṃ yeva kappamhi brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Chính ở vào kiếp này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
443. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
444. Tass’ āsiṃ jeṭṭhikā dhītā samaṇī iti vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đã là người con gái lớn nhất của vị ấy được nổi danh là Samaṇī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
445. Anujāni na no tāto akāreva tadā mayaṃ,
vīsavassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, chúng tôi chẳng có việc gì làm, đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
446. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhūpaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
447. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
448. Ahaṃ uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī.
Tôi, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
449. Kadāci so narādicco dhammaṃ deseti abbhutaṃ,
mahānidānasuttantaṃ sutvā taṃ pariyāpuṇiṃ.
Có lần nọ đấng Mặt Trời của nhân loại ấy thuyết giảng Giáo Pháp tuyệt vời. Sau khi lắng nghe bài Kinh Đại Duyên tôi đã học thuộc lòng bài Kinh ấy.
450. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
451. Pacchime ca bhave dāni sāgalāyaṃ puruttame,
rañño maddassa dhītāmhi manāpā dayitā piyā.
Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi là người con gái vui tính, được mến, đáng yêu của đức vua Madda ở tại kinh thành Sāgalā.
452. Saha me jātamattamhi khemaṃ tamhi pure ahu,
tato khemāti nāmaṃ me guṇato upapajjatha.
Cùng với tôi trong việc đã được sanh ra là trong kinh thành ấy đã có sự thái bình. Vì thế, tên “Khemā” đã được sanh lên cho tôi xuất phát từ công đức (ấy).
453. Yadāhaṃ yobbanaṃ pattā rūpalāvaññabhūsitā,
tadā adāsi maṃ tāto bimbisārassa rājino.
Khi tôi đạt đến tuổi trưởng thành, được tô điểm bởi của sắc đẹp và sự mặn mà, khi ấy người cha đã dâng tôi cho đức vua Bimbisāra.
454. Tassāhaṃ suppiyā āsiṃ rūpakelāyane ratā,
rūpānaṃ dosavādīti na upesiṃ mahādayaṃ.
Tôi đã là người nữ vô cùng yêu quý của vị (vua) ấy. Thích thú trong việc trau chuốt xác thân, tôi đã không tỏ ra rộng lượng đối với những lời nói về khuyết điểm của các sắc đẹp.
455. Bimbisāro tadā rājā mamānuggahabuddhiyā,
vaṇṇayitvā veḷuvanaṃ gāyake gāpayī mamaṃ.
Khi ấy, với sáng kiến nhằm giúp đỡ cho tôi, đức vua Bimbisāra đã ngợi khen về Veḷuvana (Trúc Lâm) và đã bảo các ca sĩ ca hát cho tôi nghe rằng:
456. “Rammaṃ veḷuvanaṃ yena na diṭṭhaṃ sugatālayaṃ,
na tena nandanaṃ diṭṭhaṃ iti maññāmase mayaṃ.
“Chúng tôi quan niệm rằng: ‘Người nào chưa nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu, chốn ngụ cư của đấng Thiện Thệ, thì người ấy chưa nhìn thấy (vườn hoa) Nandana (của cõi trời).
457. Yena veḷuvanaṃ diṭṭhaṃ naranandananandanaṃ,
sudiṭṭhaṃ nandinaṃ tena amarindasunandanaṃ.
Người nào đã nhìn thấy Veḷuvana là (vườn hoa) hoan lạc Nandana của nhân loại, người ấy đã nhìn thấy (vườn hoa) Nandana vô cùng hoan lạc của vị Thiên Vương.
458. Vihāya nandanaṃ devā otaritvā mahītalaṃ,
rammaṃ veḷuvanaṃ disvā na tappanti suvimhitā.
Chư Thiên sau khi rời (vườn hoa) Nandana ngự xuống mặt đất và đã nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu thì vô cùng sửng sốt và không còn ân hận nữa.
459. Rājapuññena nibbattaṃ buddhapuññena bhūsitaṃ,
ko vattā tassa nissesaṃ vanassa guṇasañcayaṃ.”
(Veḷuvana) đã được sanh lên do phước báu của đức vua, được làm đẹp nhờ vào phước báu của đức Phật, có ai là người thuật lại một cách trọn vẹn về tổng thể các đức tính tốt đẹp của khu vườn ấy?”
460. Taṃ sutvā vanasamiddhiṃ mama sotamanoharaṃ,
daṭṭhukāmā tamuyyānaṃ rañño ārocayiṃ tadā.
Sau khi nghe được sự thành công của khu rừng ấy, đối với tôi là có sự quyến rũ ở tai, vào khi ấy có lòng mong muốn nhìn thấy khu vườn ấy tôi đã trình lên đức vua.
461. Mahatā parivārena tadā ca so mahīpati,
maṃ pesesi tamuyyānaṃ dassanāya samussukaṃ.
Và khi ấy, vị lãnh chúa ấy đã phái đoàn tùy tùng đông đảo đưa tôi đi để nhìn xem khu vườn ấy một cách sốt sắng:
462. “Gaccha passa mahābhoge vanaṃ nettarasāyanaṃ,
yaṃ sadā bhāti siriyā sugatābhānurañjitaṃ.”
“Hỡi nàng là của cải vĩ đại, nàng hãy đi, hãy nhìn xem khu rừng đem lại sự bổ ích cho cặp mắt, là nơi luôn luôn chói sáng với sự vinh quanh, được rực rỡ với hào quang của đấng Thiện Thệ.”
463. Yadā ca piṇḍāya muni giribbajapuruttame,
paviṭṭho ’haṃ tadāyeva vanaṃ daṭṭhumupāgamiṃ.
Và vào lúc đấng Hiền Triết đã đi vào kinh thành Giribbaja để khất thực, đúng vào lúc ấy tôi đã đi đến để nhìn thấy khu rừng.
464. Tadā ’haṃ phullavipinaṃ nānābhamarakūjitaṃ,
kokilāgītasahitaṃ mayūragaṇanaccitaṃ.
Khi ấy, khu rừng cây trải dài ấy[9] được rì rào tiếng vo ve của ong vò vẽ các loại, được phối hợp với tiếng rù rù của loài chim cu, được nhảy múa bởi đám chim công.
465. Appasaddamanākiṇṇaṃ nānācaṅkamabhūsitaṃ,
kuṭimaṇḍapasaṅkiṇṇaṃ yogīvaravirājitaṃ.
(Khu rừng cây) có ít tiếng động, không bị phân tán, được điểm tô bằng các đường kinh hành khác nhau, được rải rác với các cụm liêu cốc, được nổi bậc với các hành giả cao quý.
466. Vicarantī amaññissaṃ “saphalaṃ nayanaṃ mama,”
tatthāpi taruṇaṃ bhikkhuṃ yuttaṃ disvā vicintayiṃ.
Trong khi dạo quanh, tôi đã suy nghĩ rằng: “Mắt ta có được thành quả.” Cũng tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu trẻ gắn bó (thiền tập) và đã suy gẫm rằng:
467. Īdise ’pi vane ramme ṭhito ’yaṃ navayobbane,
vasantamiva kantena rūpena ca samanvito.
“Vị này ở vào độ tuổi rất trẻ và được phú cho dáng vóc dễ thương như là mùa xuân lại tồn tại ở trong khu rừng thậm chí đáng yêu như vầy.
468. Nisinno rukkhamūlamhi muṇḍo saṅghāṭipāruto,
jhāyate vat’ ayaṃ bhikkhu hitvā visayajaṃ ratiṃ.
Ngồi ở gốc cây, đầu cạo, đắp y hai lớp, tham thiền, quả nhiên vị tỳ khưu này đã từ bỏ khoái lạc sanh lên từ đối tượng (bên ngoài).
469. Nanu nāma gahaṭṭhena kāmaṃ bhutvā yathāsukhaṃ,
pacchā jiṇṇena dhammo ’yaṃ caritabbo subhaddako.
Phải chăng con người vô cùng hiền thiện này nên thọ hưởng (ngũ) dục cho thoải mái với cuộc đời tại gia, sau này về già mới nên thực hành Giáo Pháp?”
470. Suññakanti viditvāna gandhagehaṃ jinālayaṃ,
upetvā jinamaddakkhiṃ udayantaṃva bhākaraṃ.
Sau khi biết được rằng “Sunññaka” là hương thất, là chỗ ngụ của đấng Chiến Thắng, tôi đã đi đến gần và đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng tương tợ như là mặt trời đang mọc lên.
471. Ekakaṃ sukhamāsīnaṃ vījamānā varitthiyā,
disvānevaṃ vicintesiṃ “nāyaṃ lūkho narāsabho.”
(Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng) ngồi mỗi một mình một cách an lạc đang được quạt bởi người nữ quý phái. Sau khi nhìn thấy tôi đã suy gẫm như vầy: “Bậc Nhân Ngưu này không có thô lỗ.”
472. Sā kaññā kanakābhāsā padumānanalocanā,
bimboṭṭhī kundadasanā manonettarasāyanā.
Người thiếu nữ ấy có diện mạo (sáng) như vàng, có khuôn mặt và đôi mắt như đóa sen, có môi đỏ, có răng màu hoa nhài, có sự thu hút con tim và ánh mắt.
473. Hemadolābhasavanā kalasākārasutthanī,
tanumajjhā ca sussoṇī rambhoru cārubhūsanā.
Có đôi tai lấp lánh khuyên vàng, có ngực dạng bầu bầu, có eo thon, có mông đẹp, có đùi thân chuối, và có đồ trang sức xinh xắn.
474. Rattaṃsukūpasabyānā nīlamaṭṭhanivāsanā,
atappaneyyarūpena hāvabhāvasamanvitā.
Với chiếc áo khoác ngoài lên đôi vai gợi tình, với y phục tinh khiết màu xanh, được sở hữu tính chất phụ nữ với hình dáng (nhìn) không thể nào thỏa mãn.
475. Disvā tamevaṃ cintesiṃ “Aho ’yaṃ abhirūpinī,
na mayā ’nena nettena diṭṭhapubbā kudācanaṃ.”
Sau khi nhìn thấy nàng ấy, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Ôi, nàng này tuyệt đẹp. Ta chưa từng nhìn thấy trước đây bằng (cặp) mắt này.”
476. Tato jarābhibhūtā sā vivaṇṇā vitatānanā,
bhinnadantā setasirā salālavadanāsuci.
Kế đó, bị chế ngự bởi sự già, nàng ấy (trở nên) có dung nhan tàn tạ, khuôn mặt chảy dài, răng sứt mẻ, đầu bạc, miệng có nước dãi, dơ dáy, ...
477. Saṅkhittakaṇṇā setakkhī lambāsubhapayodharā,
valivitatasabbaṅgī sirāvitatadehinī.
... có tai bị co rút, mắt trắng (đục), bộ ngực xấu xí đong đưa, tất cả các bộ phận cơ thể bị nhăn nheo chảy xệ, thân thể nổi đầy gân.
478. Nataṅgā daṇḍadutiyā uppaṇḍuppaṇḍukā kisā,
pavedhamānā patitā nissasantī muhuṃ muhuṃ.
... có lưng bị còng, có gậy là bạn, vô cùng nhợt nhạt, gầy còm, trong lúc run rẩy bị té nhào, chốc chốc lại bị hụt hơi.
479. Tato me āsi saṃvego abbhuto lomahaṃsano,
dhiratthu rūpaṃ asuciṃ ramante yattha bālisā.
Do đó, tôi đã có sự chấn động, kinh ngạc, lông dựng đứng: “Thật là xấu hổ cho xác thân bất tịnh là nơi mà những kẻ ngu hứng thú!”
480. Tadā mahākāruṇiko disvā saṃviggamānasaṃ,
udaggacitto sugato imā gāthā abhāsatha:
Khi ấy, sau khi nhìn thấy (tôi có) tâm bị chấn động, đấng Đại Bi, bậc Thiện Thệ với tâm phấn khởi, đã nói lên những lời kệ này:
481. “Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ passa kheme samussayaṃ,
uggharantaṃ paggharantaṃ bālānaṃ abhinanditaṃ.
“Này Khemā, hãy nhìn xem thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối đang tiết ra, đang rò rỉ lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.
482. Asubhāya cittaṃ bhāvehi ekaggaṃ susamāhitaṃ,
sati kāyagatā tyatthu nibbidābahulā bhava.
Nàng hãy tu tập tâm được chuyên nhất khéo tập trung về đề mục bất mỹ, niệm hãy được hướng đến thân, nàng hãy có nhiều sự nhàm chán.
483. Yathā idaṃ tathā etaṃ yathā etaṃ tathā idaṃ,
ajjhattañca bahiddhā ca kāye chandaṃ virājaya.
Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy. Nàng hãy lìa bỏ sự mong muốn về thân ở bên trong lẫn bên ngoài.
484. Animittañca bhāvetha mānānusayamujjaha,
tato mānābhisamayā upasantā carissasi.
Và nàng hãy tu tập về vô tướng, hãy dứt bỏ ngã mạn ngũ ngầm, từ đó có được sự lãnh hội về ngã mạn nàng sẽ sống thanh tịnh.
485. Ye rāgarattānupatanti sotaṃ
sayaṃ kataṃ makkaṭakova jālaṃ,
etampi chetvāna paribbajanti
anapekkhino kāmasukhaṃ pahāya.”
Những người bị đắm nhiễm ái dục rơi vào dòng chảy tương tợ như con nhện sa vào mạng lưới được chính nó tạo nên, sau khi cắt đứt luôn cả điều ấy xuất gia từ bỏ dục lạc trở thành những người vô tư lự.”
486. Tato kallitacittaṃ maṃ ñatvāna narasārathi,
mahānidānaṃ desesi suttantaṃ vinayāya me.
Kế đó, sau khi biết được tôi có tâm đã được sẵn sàng, đấng Điều Ngự Trượng Phu đã thuyết giảng bài Kinh Mahānidāna[10] nhằm hướng dẫn cho tôi.
487. Sutvā suttantaseṭṭhaṃ taṃ pubbasaññamanussariṃ,
tattha ṭhitāv’ ahaṃ santī dhammacakkhuṃ visodhayiṃ.
Sau khi lắng nghe bài kinh tuyệt vời ấy, tôi đã tưởng nhớ về quá khứ. Tại nơi ấy, tôi được an tịnh khi đang đứng; tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh.
488. Nipatitvā mahesissa pādamūlamhi tāvade,
accayaṃ desanatthāya idaṃ vacanamabraviṃ:
Ngay lập tức, tôi đã cúi xuống ở dưới bàn chân của bậc Đại Hiền Triết nhằm mục đích bày tỏ tội lỗi, và đã nói lời nói này:
489. “Namo te sabbadassāvi namo te karuṇākara,
namo te tiṇṇasaṃsāra namo te amataṃdada.
“Hỡi đấng Toàn Tri, con kính lễ Ngài. Hỡi đấng hành bi mẫn, con kính lễ Ngài. Hỡi đấng đã vượt qua luân hồi, con kính lễ Ngài. Hỡi đấng ban cho sự bất tử, con kính lễ Ngài.
490. Diṭṭhigahanapakkhantā kāmarāgavimohitā,
tayā sammā upāyena vinītā vinaye ratā.
Con đã lao theo sự nắm bắt tà kiến, bị lầm lạc trong ái dục, nhờ Ngài với phương pháp đúng đắn con đã được dẫn dắt, được thỏa thích trong sự rèn luyện.
491. Adassanena vibbhogā tādisānaṃ mahesinaṃ,
anubhonti mahādukkhaṃ sattā saṃsārasāgare.
Là không có phước phần đối với việc không nhìn thấy các bậc Đại Hiền Triết như thế ấy, chúng sanh chịu đựng khổ đau lớn lao trong biển cả luân hồi.
492. Yadā ’haṃ lokasaraṇaṃ araṇaṃ maraṇantaguṃ,
nāddasāsimadūraṭṭhaṃ desayāmi tamaccayaṃ.
Khi con đã không nhìn thấy được sự lợi ích cận kề, nơi nương nhờ của thế gian, bậc không dục vọng, đã đạt đến tận cùng của sự chết, con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.
493. Mahāhitaṃ varadadaṃ ahitoti visaṅkitaṃ,
nopesiṃ rūpaniratā desayāmi tamaccayaṃ.”
Bị đắm say xác thân, con đã không đến gần bậc có lợi ích lớn, vị có sự bố thí cao quý, hoài nghi là: ‘Không có lợi ích,’ con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.”
494. Tadā madhuraniggoso mahākāruṇiko jino,
avoca “tiṭṭha kheme”ti siñcanto amatena maṃ.
Khi ấy, trong lúc rưới rắc sự bất tử đến tôi, bậc Đại Bi, đấng Chiến Thắng, vị có giọng nói vang ngọt ngào, đã nói rằng: “Này Khemā, hãy đứng lại.”
495. Tadā paṇamya sirasā katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ,
gantvā disvā narapatiṃ idaṃ vacanamabraviṃ.
Khi ấy, sau khi đã đê đầu đảnh lễ và đã thực hiện việc nhiễu quanh vị ấy, tôi đã ra đi. Sau khi nhìn thấy đấng quân vương, tôi đã nói lời nói này:
496. “Aho sammā-upāyo te cintito ’yamarindama,
vanadassanakāmāya diṭṭho nibbānado muni.
“Ôi vị khuất phục kẻ thù, phương pháp đúng đắn này đã được suy tính bởi bệ hạ. Do ước muốn nhìn thấy khu rừng, bậc Hiền Triết vị ban phát Niết Bàn đã được nhìn thấy.
497. Yadi te ruccate rāja sāsane tassa tādino,
pabbajissāmi rūpe ’haṃ nibbinnā munivāṇinā.
Tâu bệ hạ, nếu ngài vui thích thiếp sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của vị như thế ấy. Nhờ vào lời nói của bậc Hiền Triết, thiếp đã nhàm chán sắc thân.”
Bhāṇavāraṃ dutiyaṃ.
Tụng phẩm thứ nhì.
498. Añjaliṃ paggahetvāna tadāha sa mahīpati,
“Anujānāmi te bhadde pabbajjā tava sijjhatu.”
Khi ấy, vị lãnh chúa ấy đã chắp tay lên và nói rằng: “Này hiền thê, trẫm cho phép nàng. Cầu chúc sự xuất gia được thành tựu đến nàng.”
499. Pabbajitvā tadā cāhaṃ addhamāse upaṭṭhite,
dīpodayañca bhedañca disvā saṃviggamānasā.
Và sau khi xuất gia, khi ấy đã được nửa tháng, sau khi nhìn thấy sự sáng lên của ngọn đèn và sự diệt tắt tôi có tâm bị chấn động.
500. Nibbinnā sabbasaṅkhāre paccayākārakovidā,
caturoghe atikkamma arahattamapāpuṇiṃ.
Nhàm chán tất cả các hành, được rành rẽ về biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi), sau khi đã vượt qua bốn dòng nước lũ (bộc lưu), tôi đã đạt được quả vị A-la-hán.
501. Iddhiyā ca vasī āsiṃ dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī cāpi bhavāmahaṃ.
Tôi đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và tôi cũng đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
502. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
503. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
parisuddhaṃ mama ñāṇaṃ uppannaṃ buddhasāsane.
Trí tuệ hoàn toàn thanh tịnh của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong Giáo Pháp của đức Phật.
504. Kusalā ’haṃ visuddhīsu kathāvatthu visāradā,
abhidhammanayaññū ca vasippattā ’mhi sāsane.
Tôi là thiện xảo về các (pháp) thanh tịnh, là tự tin trong vấn đề tranh luận, biết về phương thức của các pháp thù thắng, và đã đạt được năng lực ở Giáo Pháp.
505. Tato bhojanavatthusmiṃ raññā kosalasāminā,
pucchitā nipuṇe pañhe vyākarontī yathātathaṃ.
Sau đó, được đức vua (Pasenadi) chủ quản xứ Kosala hỏi các câu hỏi khôn khéo về vấn đề vật thực, tôi đã giải thích đúng theo bản thể.
506. Tadā sa rājā sugataṃ upasaṅkamma pucchatha,
tatheva buddho vyākāsi yathā te vyākatā mayā.
Sau đó, vị vua ấy đã đi đến gặp đấng Thiện Thệ và đã hỏi lại. Các điều ấy đã được tôi giải thích như thế nào thì đức Phật đã giải thích y như thế ấy.
507. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ,
mahāpaññānamaggāti bhikkhunīnaṃ naruttamo.
Đấng Chiến Thắng, bậc Tối Thượng Nhân hoan hỷ về đức hạnh ấy đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng là “Vị đứng đầu các vị có đại tuệ” trong số các vị tỳ khưu ni.
508. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
509. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
510. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Khemā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Khemā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Khemātheriyāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Ký sự về trưởng lão ni Khemā là phần thứ tám.


93 Đại Đệ Tử Đức Phật

©www.vdpzoom.com