21. Kuṇḍalakesāpadānaṃ
21. Ký Sự về Kuṇḍalakesā: 639. Padamuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū, ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako. Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi. 640. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ, nānāratanapajjote mahāsukhasamappite. Khi ấy, tôi đã được sanh ra tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ bởi vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao. 641. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ, tato jātappasādā ’haṃ upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ. Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng. 642. Tadā mahākāruṇiko padumuttaranāmako, khippābhiññānamaggatte ṭhapesi bhikkhuniṃ subhaṃ. Khi ấy, đấng Đại Bi tên Padumuttara đã thiết lập tỳ khưu ni Subhā vào vị thế tối thắng trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén. 643. Taṃ sutvā muditā hutvā dānaṃ datvā mahesino, nipajja sirasā pāde taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ. Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã cúng dường vật thí đến bậc Đại Ẩn Sĩ, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã phát nguyện vị thế ấy. 644. Anumodi mahāvīro bhadde yaṃ te ’bhipatthitaṃ, samijjhissati taṃ sabbaṃ sukhinī hohi nibbutā. Đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Này cô gái hiền thục, điều nào đã được con ước nguyện toàn bộ điều ấy sẽ được thành tựu. Hãy được an lạc, hãy được Niết Bàn. 645. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo, gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. 646. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā, bhaddā kuṇḍakesāti hessasi satthusāvikā. (Người nữ này) sẽ là Bhaddā Kuṇḍakesā, nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp.” 647. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 648. Tato cutā yāmamagā tato ’haṃ tusitaṃ gatā, tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại. 649. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa vāhasā, tattha tattheva rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ. Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy. 650. Tato cutā manussesu rājūnaṃ vasavattinaṃ, maṇḍalīnañca rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ. Từ nơi ấy chết đi, ở giữa loài người tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua có quyền lực và của các vị vua có lãnh thổ. 651. Sampattiṃ anubhotvāna devesu mānusesu ca, sabbattha sukhitā hutvā nekakappesu saṃsariṃ. Tôi đã thọ hưởng sự thành công ở giữa chư thiên và nhân loại, tôi đã được an vui ở trong mọi nơi, tôi đã luân hồi vô số (đại) kiếp. 652. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso, kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo. Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên. 653. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro, kāsirājā kikī nāma bārāṇasi puruttame. Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ. 654. Tassa dhītā catutth’ āsiṃ bhikkhudāsīti vissutā, dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ. Tôi đã là người con gái thứ tư của vị (vua) ấy được nổi danh là “Bhikkhudāsī.” Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia. 655. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ, vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi. 656. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā, buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro. Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật. 657. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā, dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā. Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy. 658. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ahaṃ tathā, kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī. Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại). 659. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca, jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ. Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. 660. Pacchime ca bhave dāni giribbajapuruttame, jātā seṭṭhikule phīte yadā ’haṃ yobbane ṭhitā. Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú thịnh vượng. Rồi đến lúc tôi đã ở vào lứa tuổi thanh xuân. 661. Coraṃ vadhatthaṃ nīyantaṃ disvā rattā tahiṃ ahaṃ, pitā me taṃ sahassena mocayitvā vadhā tato. Sau khi nhìn thấy kẻ trộm đang bị dẫn đi để xử tử, tôi đã bị luyến ái với gã. Do đó, cha của tôi đã giải cứu gã ấy khỏi cái chết bằng ngàn đồng tiền. 662. Adāsi tassa maṃ tāto viditvāna manaṃ mama, tassāhamāsiṃ vissatthā atīva dayitā hitā. Sau khi biết được tâm ý của tôi, cha đã ban gã ấy cho tôi. Tôi đã trở nên thân thiết, vô cùng yêu thương, gắn bó đối với gã ấy. 663. So me bhūsanalobhena khalitajjhāsayo diso, corappapātaṃ netvāna pabbataṃ cetayī vadhaṃ. Vì lòng tham đối với các đồ trang sức của tôi, gã nghịch thù ấy có ý định gây tội đã đưa (tôi) đến ngọn núi có vực thẳm Kẻ Trộm và đã nghĩ đến việc giết hại. 664. Tadā ’haṃ paṇamitvāna bhattukaṃ sukatañjalī, rakkhantī attano pāṇaṃ idaṃ vacanamabraviṃ: Khi ấy, trong lúc bảo vệ mạng sống của mình, tôi đã cúi lạy, nghiêm chỉnh chắp tay lại với người chồng, và đã nói lời nói này: 665. “Idaṃ suvaṇṇaṃ keyūraṃ muttā veḷuriyā bahū, sabbaṃ harassu bhaddante mañca dāsīti sāvaya.” “Thưa tướng công, vàng vòng ngọc trai ngọc bích này có nhiều, xin chàng hãy tự mang đi tất cả. Và hãy thông báo rằng thiếp là ‘Nô tỳ.’” 666. Oropayassu kalyāṇi mā bāḷhaṃ paridevasi, na cāhaṃ abhijānāmi ahantvā dhanamābhataṃ.” “Này người đẹp, nàng phải chết. Chớ than vãn nhiều quá. Và ta biết chắc rằng không giết thì của cải không mang đi được.” 667. “Yato sarāmi attānaṃ yato pattāsmi viññutaṃ, na cāhaṃ abhijānāmi aññaṃ piyataraṃ tayā. “Kể từ khi thiếp ghi nhớ được bản thân, kể từ khi thiếp đạt được sự hiểu biết, và thiếp biết chắc rằng không ai khác được yêu thương hơn là chàng. 668. Ehi taṃ upagūhissaṃ kassañca taṃ padakkhiṇaṃ, na ca dāni puno atthi mama tuyhañca saṅgamo. Xin chàng hãy đến, thiếp sẽ ôm lấy chàng và sẽ nhiễu quanh chàng. Và giờ đây không còn có sự gần gũi nào giữa thiếp và chàng nữa.” 669. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito, itthīpi paṇḍitā hoti tattha tattha vicakkhaṇā. Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ có sự cẩn thật nhiều bề cũng là khôn ngoan. 670. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito, itthīpi paṇḍitā hoti lahuṃ atthavicintakā. Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ cân nhắc điều lợi ích một cách mau chóng cũng là khôn ngoan. 671. Lahuñca vata khippañca nikiṭṭhe samacetayiṃ, migamuṇṇā yathā evaṃ tadā ’haṃ sattukaṃ vadhiṃ. Quả nhiên, một cách nhẹ nhàng và mau chóng tôi đã suy nghĩ mưu kế. Giống như bộ lông (giết chết) con thú, khi ấy tôi đã giết chết gã Sattuka như thế. 672. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ na khippamanubujjhati, so haññate mandamati corova girigabbhare. Và người nào không mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, người có trí kém cỏi ấy sẽ bị giết như là kẻ trộm ở hẻm núi. 673. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ khippameva nibodhati, muccate sattusambādhā tadā ’haṃ sattukā yathā. Và người nào thật mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, (người ấy) thoát khỏi sự quấy rối của kẻ thù giống như tôi và Sattuka vào khi ấy vậy. 674. Tadā taṃ pātayitvāna giriduggamhi sattukaṃ, santikaṃ setavatthānaṃ upetvā pabbajiṃ ahaṃ. Khi ấy, tôi đã quăng gã Sattuka ấy vào hóc núi, rồi đã đi đến gặp những người (ngoại đạo) mặc vải trắng, và đã xuất gia. 675. Saṇḍāsena ca kese me luñcitvā sabbaso tadā, pabbājetvā sasamayaṃ ācikkhiṃsu nirantaraṃ. Và khi ấy, sau khi đã nhổ lên toàn bộ những sợi tóc của tôi bằng nhíp,[1] họ đã cho tôi xuất gia và đã chỉ dạy giáo lý không có gián đoạn. 676. Tato taṃ uggahetvāna nisīditvāna ekikā, samayaṃ taṃ vicintesiṃ suvāno mānusaṃ karaṃ. 677. Chinnaṃ gayha samīpe me pātayitvā apakkami, disvā nimittamalabhiṃ hatthaṃ taṃ puḷavākulaṃ. Tôi đã học xong (giáo lý) ấy từ họ. Tôi đã ngồi xuống mỗi một mình và đã suy xét về (giáo lý) ấy. Có con chó tha bàn tay của con người bị đứt lìa và đã nhả ở cạnh tôi rồi đã bỏ chạy. Sau khi nhìn thấy dấu hiệu, tôi đã nhặt lấy bàn tay có đầy dòi bọ ấy. 678. Tato vuṭṭhāya saṃviggā apucchiṃ sahadhammike, te avocuṃ: “Vijānanti tamatthaṃ sakyabhikkhavo.” Sau khi từ chỗ ấy đứng dậy, bị chấn động tôi đã hỏi những người đồng đạo. Họ đã nói rằng: “Những vị tỳ khưu dòng Sakya biết rõ ý nghĩa ấy.” 679. Sāhaṃ tamatthaṃ pucchissaṃ upetvā buddhasāvake, te mamādāya gacchiṃsu buddhaseṭṭhassa santikaṃ. (Nghĩ rằng) “Ta sẽ hỏi ý nghĩa ấy,” tôi đây đã đi đến các vị Thinh Văn của đức Phật. Sau khi đón nhận tôi, các vị ấy đã đi đến bên đức Phật Tối Thượng. 680. So me dhammamadesesi khandhāyatanadhātuyo, asubhāniccā dukkhāti anattā’ti ca nāyako. Và đấng Lãnh Đạo ấy đã thuyết Pháp cho tôi về: “Uẩn, xứ, giới, đề mục bất mỹ, vô thường, khổ não, vô ngã.” 681. Tassa dhammaṃ suṇitvā ’haṃ dhammacakkhuṃ visodhayiṃ, tato viññātasaddhammā pabbajjaṃ upasampadaṃ. 682. Āyāciṃ so tadā āha “ehi bhadde”ti nāyako, tadā ’haṃ upasampannā parittaṃ toyamaddasaṃ. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã yêu cầu sự xuất gia và sự tu lên bậc trên. Khi ấy, đấng Lãnh Đạo ấy đã nói rằng: “Này cô gái hiền thục, hãy đến.” Khi ấy, được tu lên bậc trên, tôi đã nhìn thấy một ít nước. 683. Pādapakkhālanenāhaṃ ñatvā sa-udayaṃ vayaṃ, tathā sabbepi saṅkhārā iti saṃcintayiṃ tadā. Với sự rửa sạch bàn chân, tôi đã biết được là có sự tiêu hoại với nước. Khi ấy, tôi đã tự suy xét rằng: “Tất cả các hành cũng là tương tợ như thế.” 684. Tato cittaṃ vimucci me anupādāya sabbaso, khippābhiññānamaggaṃ maṃ tadā paññāpayī jino. Sau đó, tâm tôi đã được giải thoát trọn vẹn không còn chấp thủ. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén. 685. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā, paricittāni jānāmi satthusāsanakārikā. Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác. 686. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ, khepetvā āsave sabbe visuddh’ āsiṃ sunimmalā. Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm. 687. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ, ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā. Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan. 688. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ, so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo. Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến. 689. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca, ñāṇaṃ me vipulaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa sāsane. Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là bao la, trong sạch ở trong Giáo Pháp của đức Phật tối thượng. 690. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. 691. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. 692. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime, chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ. Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. Itthaṃ sudaṃ Bhaddā Kuṇḍalakesā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti. Tỳ khưu ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. Kuṇḍalakesātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ. Ký sự về trưởng lão ni Bhaddā Kuṇḍalakesā là phần thứ nhất. | ||||